Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định về quản lý, sử dụng biên chế công chức, dự kiến có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. So với Nghị định 62/2020/NĐ-CP, dự thảo đề xuất nhiều thay đổi đáng chú ý.
- 1. Lập kế hoạch biên chế công chức theo chu kỳ 5 năm từ 01/7/2026
- 2. Bổ sung căn cứ xác định biên chế công chức theo chuyển đổi số
- 3. Điều chỉnh biên chế công chức không được làm tăng tổng biên chế được giao
- 4. Đưa biên chế công chức cấp xã vào cơ chế quản lý thống nhất từ 01/7/2026
- 5. Dự kiến HĐND cấp tỉnh quyết định giao biên chế công chức cho cả cấp tỉnh và cấp xã
- 6. HĐND cấp tỉnh được điều chỉnh biên chế giữa các cơ quan cấp tỉnh và từng cấp xã
- 7. Bộ trưởng được quyền điều chỉnh biên chế giữa các tổ chức hành chính thuộc Bộ
- 8. Quy định riêng về biên chế công chức tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
- 9. Bộ quản lý ngành dự kiến phải ban hành định mức biên chế công chức trước 31/12/2026
- 10. Người làm công việc hỗ trợ, phục vụ được tuyển trước 01/4/1993 dự kiến vẫn thuộc biên chế công chức
1. Lập kế hoạch biên chế công chức theo chu kỳ 5 năm từ 01/7/2026
Dự thảo Nghị định về quản lý, sử dụng biên chế công chức ngày 13/6/2026 đã bổ sung quy định mới về việc xây dựng kế hoạch biên chế công chức theo chu kỳ 5 năm. Đây là một trong những nội dung đáng chú ý bởi hiện nay việc lập biên chế công chức chủ yếu được thực hiện theo kế hoạch hằng năm.
Theo khoản 2 Điều 5 dự thảo, một trong các nội dung quản lý, sử dụng biên chế công chức là xây dựng kế hoạch và giao biên chế công chức 5 năm, hằng năm; điều chỉnh biên chế công chức theo quy định của Nghị định. Đồng thời, Điều 7 và Điều 8 dự thảo cũng quy định hồ sơ, nội dung, trình tự xây dựng và thẩm định kế hoạch biên chế công chức 5 năm và hằng năm.
Cụ thể, trước ngày 01/3 của năm trước liền kề năm đầu tiên của kỳ kế hoạch 5 năm, các bộ, địa phương phải gửi hồ sơ kế hoạch biên chế công chức 5 năm tới cơ quan có thẩm quyền quản lý biên chế theo quy định.
Nghị định 62/2020/NĐ-CP hiện hành chỉ quy định việc xây dựng kế hoạch biên chế công chức hằng năm. Điều 10 và Điều 11 Nghị định 62/2020/NĐ-CP quy định các cơ quan, tổ chức xây dựng kế hoạch biên chế công chức hằng năm và gửi Bộ Nội vụ để thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định.

2. Bổ sung căn cứ xác định biên chế công chức theo chuyển đổi số
Một điểm mới đáng chú ý khác tại dự thảo là việc mở rộng các căn cứ xác định biên chế công chức, trong đó lần đầu tiên đưa yếu tố chuyển đổi số vào quá trình xác định nhu cầu biên chế.
Theo khoản 2 Điều 6 dự thảo, khi xác định biên chế công chức phải căn cứ vào việc cải tiến quy trình, thay đổi phương thức hoạt động, mức độ hiện đại hóa trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển đổi số, phân cấp và phân quyền.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 6 dự thảo còn bổ sung căn cứ là việc ký hợp đồng thực hiện một số nhiệm vụ của công chức theo Điều 21 Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 4 Nghị định 62/2020/NĐ-CP hiện hành chỉ quy định các căn cứ xác định biên chế công chức gồm vị trí việc làm, khối lượng công việc, mức độ hiện đại hóa trang thiết bị, thực tế sử dụng biên chế và một số yếu tố đặc thù của địa phương. Quy định hiện hành chưa đề cập đến chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền hay việc ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ công chức.
3. Điều chỉnh biên chế công chức không được làm tăng tổng biên chế được giao
Dự thảo Nghị định lần đầu tiên đặt ra nguyên tắc rõ ràng về việc điều chỉnh biên chế công chức trong quá trình sử dụng.
Theo khoản 4 Điều 10 dự thảo, việc điều chỉnh biên chế công chức phải thực hiện theo nguyên tắc không làm tăng tổng biên chế công chức được cấp có thẩm quyền giao tại thời điểm điều chỉnh và phải bảo đảm phù hợp với thẩm quyền của cơ quan quản lý biên chế.
Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 10 dự thảo quy định trường hợp điều chỉnh làm tăng tổng biên chế công chức được giao thì phải thực hiện theo trình tự lập kế hoạch, thẩm định và giao biên chế quy định tại Điều 7, Điều 8 và Điều 9 của dự thảo.
Trong khi đó, Điều 13 Nghị định 62/2020/NĐ-CP hiện hành chỉ quy định các trường hợp được điều chỉnh biên chế công chức và hồ sơ, trình tự thực hiện nhưng chưa có nguyên tắc bắt buộc phải bảo đảm không làm tăng tổng biên chế khi điều chỉnh.
4. Đưa biên chế công chức cấp xã vào cơ chế quản lý thống nhất từ 01/7/2026
Một điểm mới đáng chú ý tại dự thảo Nghị định về quản lý, sử dụng biên chế công chức là bổ sung rõ các tổ chức hành chính ở cấp xã vào phạm vi điều chỉnh.
Theo khoản 4 Điều 2 dự thảo, tổ chức hành chính ở xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Ngoài ra, khoản 5 Điều 2 dự thảo còn quy định Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã cũng thuộc đối tượng áp dụng.
So với quy định hiện hành, đây là điểm mới quan trọng. Nghị định 62/2020/NĐ-CP chỉ áp dụng đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập không phải đơn vị sự nghiệp công lập và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
5. Dự kiến HĐND cấp tỉnh quyết định giao biên chế công chức cho cả cấp tỉnh và cấp xã

Theo khoản 2 Điều 9 dự thảo, căn cứ biên chế công chức 5 năm, hằng năm được cơ quan có thẩm quyền giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập phương án phân bổ biên chế công chức hằng năm đối với các cơ quan sử dụng biên chế công chức của cấp tỉnh và cấp xã, trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định giao biên chế công chức hằng năm.
Phạm vi giao gồm Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã và tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã.
Đây là điểm mới so với Nghị định 62/2020/NĐ-CP. Theo Điều 15 Nghị định 62, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định biên chế công chức trong cơ quan của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong số biên chế được cơ quan có thẩm quyền giao.
6. HĐND cấp tỉnh được điều chỉnh biên chế giữa các cơ quan cấp tỉnh và từng cấp xã
Không chỉ giao biên chế, dự thảo còn quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền điều chỉnh biên chế công chức trong phạm vi địa phương.
Cụ thể, điểm b khoản 3 Điều 10 dự thảo quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh biên chế công chức giữa các tổ chức hành chính cấp tỉnh, từng cấp xã trong số biên chế công chức của địa phương đã được cơ quan có thẩm quyền giao.
Trong khi đó, Điều 13 Nghị định 62/2020/NĐ-CP hiện hành chỉ quy định việc điều chỉnh biên chế công chức trong trường hợp thay đổi căn cứ xác định biên chế, thành lập, tổ chức lại, giải thể cơ quan, tổ chức hoặc điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; hồ sơ điều chỉnh được gửi Bộ Nội vụ để thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với trường hợp tăng biên chế hoặc điều chuyển giữa các bộ, ngành, địa phương.
7. Bộ trưởng được quyền điều chỉnh biên chế giữa các tổ chức hành chính thuộc Bộ
Theo điểm a khoản 3 Điều 10 dự thảo, người đứng đầu bộ được quyết định điều chỉnh biên chế công chức giữa các tổ chức hành chính thuộc phạm vi quản lý trong số biên chế công chức của bộ đã được cơ quan có thẩm quyền giao.
So với Nghị định 62/2020/NĐ-CP, quy định hiện hành chủ yếu xác định trách nhiệm của bộ trong việc lập kế hoạch, thẩm định, tổng hợp và gửi Bộ Nội vụ. Đối với điều chỉnh tăng biên chế hoặc điều chuyển biên chế giữa các bộ, ngành, địa phương thì phải gửi Bộ Nội vụ thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
8. Quy định riêng về biên chế công chức tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Dự thảo Nghị định dành nhiều quy định riêng cho việc quản lý, sử dụng biên chế công chức tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Theo khoản 2 Điều 2 dự thảo, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc quản lý, sử dụng biên chế công chức theo pháp luật về cơ quan đại diện và quy định tại Nghị định này.
Khoản 3 Điều 9 dự thảo quy định riêng về giao biên chế công chức của cơ quan đại diện. Theo đó, trên cơ sở biên chế công chức 5 năm, hằng năm của cơ quan đại diện được cấp có thẩm quyền giao, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành quyết định giao biên chế công chức hằng năm của cơ quan đại diện đối với từng bộ trước ngày 01/10 năm trước liền kề năm kế hoạch. Sau đó, người đứng đầu bộ quyết định giao biên chế công chức hằng năm đối với cơ quan đại diện thuộc phạm vi quản lý trước ngày 31/10 năm trước liền kề năm kế hoạch.
Ngoài ra, điểm d khoản 3 Điều 10 dự thảo còn quy định Bộ trưởng Bộ Ngoại giao được quyết định điều chỉnh biên chế công chức của Bộ Ngoại giao tại các cơ quan đại diện trong trường hợp cần thiết, trên cơ sở không vượt quá định mức và chỉ tiêu biên chế của các cơ quan đại diện. Người đứng đầu bộ cũng được điều chỉnh biên chế công chức của bộ mình tại cơ quan đại diện khi có nhu cầu, sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Trong khi đó, Nghị định 62/2020/NĐ-CP chỉ quy định Bộ Nội vụ quyết định giao biên chế công chức làm việc ở nước ngoài đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
9. Bộ quản lý ngành dự kiến phải ban hành định mức biên chế công chức trước 31/12/2026
Một nội dung đáng chú ý tại dự thảo là yêu cầu các bộ quản lý ngành, lĩnh vực phải ban hành văn bản hướng dẫn về định mức biên chế công chức.
Theo khoản 4 Điều 11 dự thảo, chậm nhất đến hết ngày 31/12/2026, Bộ trưởng bộ quản lý ngành, lĩnh vực phải ban hành văn bản hướng dẫn về định mức biên chế công chức trong cơ quan, tổ chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý.
Quy định này gắn trực tiếp với căn cứ xác định biên chế tại Điều 6 dự thảo. Theo đó, biên chế công chức phải được xác định trên cơ sở vị trí việc làm, khối lượng công việc, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và định mức biên chế theo hướng dẫn của bộ quản lý ngành, lĩnh vực.
So với quy định hiện hành, khoản 1 Điều 14 Nghị định 62/2020/NĐ-CP giao bộ quản lý ngành, lĩnh vực hướng dẫn vị trí việc làm công chức nghiệp vụ chuyên ngành và định mức biên chế công chức trong cơ quan, tổ chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ.
Điểm mới của dự thảo là đặt ra mốc thời hạn cụ thể chậm nhất đến hết ngày 31/12/2026.
10. Người làm công việc hỗ trợ, phục vụ được tuyển trước 01/4/1993 dự kiến vẫn thuộc biên chế công chức
Dự thảo Nghị định có một quy định chuyển tiếp đáng chú ý đối với nhóm người làm công việc hỗ trợ, phục vụ trong cơ quan hành chính.
Theo khoản 1 Điều 16 dự thảo, những người đã được tuyển vào biên chế trước ngày 01/4/1993, đang làm các công việc tại vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ trong cơ quan, tổ chức hành chính của bộ, cấp tỉnh, cấp xã thì vẫn thuộc biên chế công chức theo quy định tại Nghị định này, trừ trường hợp có quy định khác.
Trong khi đó, Nghị định 62/2020/NĐ-CP hiện hành không có quy định chuyển tiếp riêng cho nhóm người được tuyển vào biên chế trước ngày 01/4/1993 đang làm công việc hỗ trợ, phục vụ. Điều 20 Nghị định 62 chỉ quy định quyết định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt danh mục vị trí việc làm của các bộ, ngành, địa phương được tiếp tục thực hiện cho đến khi bộ, ngành, địa phương ban hành quyết định vị trí việc làm theo Nghị định 62.
RSS