Trong trường hợp Công ty A không có thỏa thuận bảo mật riêng với người lao động, Công ty A có thể yêu cầu người lao động bồi thường do sao chép và sử dụng thông tin khách hàng sau khi nghỉ việc hay không?
Công ty A vẫn có thể yêu cầu người lao động và/hoặc công ty mới bồi thường, dù không ký thỏa thuận bảo mật riêng. Tuy nhiên, việc yêu cầu có được chấp nhận hay không phụ thuộc chủ yếu vào khả năng chứng minh rằng các thông tin bị sao chép, sử dụng thực sự là bí mật kinh doanh và hành vi đó gây thiệt hại thực tế cho Công ty A.
Việc không có thỏa thuận bảo mật riêng không đương nhiên làm mất quyền yêu cầu bồi thường, nhưng sẽ khiến Công ty A khó chứng minh rằng mình đã áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo mật thông tin.
1. Các thông tin này có thể là bí mật kinh doanh nếu đáp ứng đủ điều kiện
Căn cứ vào Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 có hiệu lực từ ngày 01/7/2006, bí mật kinh doanh được bảo hộ khi đồng thời đáp ứng các điều kiện:
- Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;
- Khi được sử dụng trong kinh doanh, tạo cho người nắm giữ lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó;
- Chủ sở hữu đã bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận.
Danh sách khách hàng, lịch sử giao dịch, bảng giá và chính sách chiết khấu có thể đáp ứng điều kiện về lợi thế kinh doanh, đặc biệt nếu các thông tin này giúp công ty mới nhanh chóng tiếp cận khách hàng, biết nhu cầu mua hàng, giá bán và mức chiết khấu mà Công ty A đang áp dụng.
Tuy nhiên, Công ty A cần chứng minh thêm rằng các thông tin đó không phải là dữ liệu phổ biến trên thị trường và đã được bảo mật ở mức hợp lý. Việc chưa ký thỏa thuận bảo mật và chưa ban hành quy chế cụ thể là yếu tố bất lợi, nhưng chưa đủ để kết luận chắc chắn rằng thông tin không được bảo hộ. Công ty A vẫn có thể chứng minh bằng các biện pháp khác, chẳng hạn như:
- Giới hạn quyền truy cập dữ liệu khách hàng;
- Phân quyền tài khoản theo chức danh;
- Sử dụng mật khẩu, nhật ký truy cập hoặc hệ thống quản trị dữ liệu;
- Cấm tự ý sao chép, tải xuống hoặc gửi dữ liệu ra bên ngoài;
- Đánh dấu tài liệu mật hoặc chỉ lưu trữ trên hệ thống nội bộ;
- Có quy trình thu hồi tài khoản, thiết bị khi người lao động nghỉ việc;
- Chứng minh rằng chỉ một số người giữ chức vụ nhất định mới được tiếp cận dữ liệu.
2. Hành vi của người lao động có dấu hiệu xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh
Căn cứ vào điểm a, điểm b và điểm c khoản 1 Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, các hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh gồm:
- Tiếp cận, thu thập thông tin bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp;
- Bộc lộ, sử dụng thông tin bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu;
- Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật để tiếp cận, thu thập hoặc làm lộ bí mật kinh doanh.
Trong tình huống này, người lao động đã sao chép dữ liệu trước khi nghỉ việc và công ty mới tiếp tục sử dụng dữ liệu để tiếp cận khách hàng cũ. Nếu Công ty A chứng minh được thông tin là bí mật kinh doanh và việc sao chép, sử dụng không được cho phép, hành vi này có thể thuộc trường hợp bộc lộ hoặc sử dụng bí mật kinh doanh không được phép.
Điểm khó là Công ty A cần làm rõ:
- Người lao động có được phép sao chép, tải xuống hoặc mang dữ liệu ra khỏi hệ thống hay không;
- Công ty A có biện pháp bảo mật thực tế nào;
- Dữ liệu bị sao chép có đầy đủ, có giá trị thương mại và có thuộc quyền kiểm soát hợp pháp của Công ty A hay không;
- Công ty mới có thực sự sử dụng dữ liệu đó để tiếp cận khách hàng hay không;
- Có mối quan hệ giữa hành vi sử dụng dữ liệu và thiệt hại, chẳng hạn như mất khách hàng, giảm doanh thu hoặc mất cơ hội kinh doanh.

3. Không có thỏa thuận bảo mật riêng không loại trừ hoàn toàn trách nhiệm
Căn cứ vào khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, quyền lợi và việc bồi thường khi vi phạm.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh có thể được lập trong hợp đồng lao động hoặc bằng văn bản khác; nội dung có thể bao gồm danh mục bí mật, phạm vi sử dụng, thời hạn bảo vệ, phương thức bảo vệ, trách nhiệm của các bên và cách xử lý vi phạm. Nếu phát hiện vi phạm sau khi hợp đồng lao động chấm dứt thì việc xử lý được thực hiện theo pháp luật dân sự và pháp luật khác có liên quan.
Quy định này cho thấy thỏa thuận bảo mật là cơ sở rất quan trọng để xác định nghĩa vụ cụ thể của người lao động, nhưng việc các bên không ký thỏa thuận riêng không đồng nghĩa mọi thông tin của Công ty A đều được tự do sao chép và sử dụng. Công ty A vẫn có thể dựa trên quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh và trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng, nếu chứng minh đủ các yếu tố vi phạm.
4. Có thể xem xét cả hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Căn cứ vào điểm a và điểm b khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/7/2019, các hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh bị cấm gồm:
- Tiếp cận, thu thập thông tin bí mật bằng cách chống lại biện pháp bảo mật của người sở hữu;
- Tiết lộ, sử dụng thông tin bí mật trong kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu.
Ngoài ra, việc công ty mới sử dụng danh sách khách hàng, lịch sử giao dịch, bảng giá và chính sách chiết khấu để tiếp cận khách hàng cũ cũng có thể cần được xem xét dưới góc độ lôi kéo khách hàng bất chính hoặc các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác, tùy vào cách thức tiếp cận và chứng cứ cụ thể.
Nếu bị xác định là hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh, Điều 16 Nghị định 75/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/12/2019 quy định mức phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi tiếp cận, thu thập thông tin bằng cách chống lại biện pháp bảo mật hoặc tiết lộ, sử dụng thông tin không được phép; đồng thời có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện và khoản lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm.
Việc áp dụng xử phạt hành chính còn phụ thuộc vào chủ thể vi phạm, thẩm quyền xử lý và quy định cụ thể về cách xác định mức phạt đối với cá nhân, tổ chức. Vì vậy, Công ty A không nên chỉ dựa vào quy định xử phạt mà cần ưu tiên chuẩn bị chứng cứ cho yêu cầu dân sự.
5. Công ty A phải chứng minh thiệt hại thực tế
Căn cứ vào khoản 3 và khoản 6 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, nguyên đơn phải cung cấp chứng cứ về hành vi xâm phạm và nếu yêu cầu bồi thường thì phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra, đồng thời nêu căn cứ xác định mức bồi thường.
Các thiệt hại có thể được xem xét gồm:
- Khoản doanh thu, lợi nhuận bị giảm sút;
- Khoản lợi nhuận mà Công ty A lẽ ra có thể đạt được;
- Chi phí điều tra, ngăn chặn hoặc khắc phục hành vi;
- Cơ hội kinh doanh bị mất;
- Khoản lợi bất hợp pháp mà bên vi phạm thu được, nếu có căn cứ xác định.
Căn cứ vào tiểu mục 1.6 mục 1 Phần B Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP có hiệu lực từ ngày 22/5/2008, tổn thất về cơ hội kinh doanh là khoản thu nhập mà người bị thiệt hại có thể có được nhưng thực tế không có được do hành vi xâm phạm. Người yêu cầu bồi thường phải nêu rõ và chứng minh cơ hội kinh doanh bị mất cũng như giá trị của cơ hội đó.
Vì vậy, việc chứng minh “công ty mới đã liên hệ với khách hàng cũ” chưa chắc đủ để được bồi thường. Công ty A cần chứng minh thêm, chẳng hạn:
- Khách hàng đã chuyển sang mua hàng của công ty mới;
- Các giao dịch bị mất có liên quan trực tiếp đến dữ liệu bị sao chép;
- Doanh thu hoặc lợi nhuận của Công ty A bị giảm;
- Công ty mới đã sử dụng đúng thông tin nội bộ như lịch sử mua hàng, giá riêng hoặc chính sách chiết khấu;
- Thiệt hại có thể định lượng được bằng tài liệu kế toán, hợp đồng, đơn hàng, lịch sử giao dịch hoặc dữ liệu hệ thống.
6. Những chứng cứ Công ty A nên thu thập
Căn cứ vào khoản 5 Điều 91 Nghị định 65/2023/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/8/2023, đối với bí mật kinh doanh, chứng cứ chứng minh tư cách chủ thể quyền có thể gồm bản mô tả nội dung, hình thức lưu giữ, cách thức bảo vệ và phương thức có được bí mật kinh doanh.
Công ty A nên bảo quản và lập hồ sơ về:
- Bản sao dữ liệu trước và sau khi người lao động nghỉ việc;
- Nhật ký đăng nhập, tải xuống, sao chép hoặc gửi dữ liệu;
- Email, tin nhắn hoặc tài liệu thể hiện việc người lao động chuyển dữ liệu;
- Quy định phân quyền truy cập hệ thống;
- Tài liệu chứng minh bảng giá, chiết khấu không công khai;
- Hợp đồng, đơn hàng và lịch sử giao dịch với khách hàng;
- Tài liệu thể hiện công ty mới sử dụng thông tin nội bộ để chào bán;
- Số liệu doanh thu trước và sau khi xảy ra hành vi;
- Lời khai hoặc xác nhận của khách hàng về việc công ty mới sử dụng thông tin mà chỉ Công ty A biết.
7. Thời hiệu khởi kiện
Nếu lựa chọn khởi kiện yêu cầu bồi thường ngoài hợp đồng, căn cứ vào Điều 588 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày Công ty A biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Căn cứ vào Điều 5 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP có hiệu lực từ ngày 01/01/2023, thời điểm biết bị xâm phạm là thời điểm Công ty A nhận ra hoặc có thể khẳng định quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm; nếu trong hoàn cảnh bình thường Công ty A phải biết có thiệt hại thì thời hiệu có thể được tính từ thời điểm đó.
Tóm lại
Công ty A có cơ sở để yêu cầu bồi thường, ngay cả khi không có thỏa thuận bảo mật riêng, nếu chứng minh được:
- Danh sách khách hàng, lịch sử giao dịch, bảng giá và chính sách chiết khấu là bí mật kinh doanh;
- Công ty A đã áp dụng các biện pháp bảo mật cần thiết;
- Người lao động đã sao chép hoặc cung cấp thông tin trái phép;
- Công ty mới đã sử dụng thông tin đó không được phép;
- Hành vi sử dụng gây thiệt hại thực tế và xác định được mức thiệt hại.
Ngược lại, nếu Công ty A hoàn toàn không có biện pháp bảo mật, dữ liệu được phổ biến rộng rãi hoặc không chứng minh được công ty mới đã sử dụng dữ liệu bị sao chép, khả năng yêu cầu bồi thường thành công sẽ thấp hơn đáng kể.
- Có đầy đủ căn cứ pháp lý (mới nhất) ở mỗi câu trả lời
- Văn phong tự nhiên như trò chuyện với chuyên gia
Trải nghiệm ngayTẠI ĐÂY
RSS