Người sử dụng lao động có được quyền sa thải lao động nữ khi đang mang thai? Trường hợp cố tình chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do mang thai sẽ bị xử lý như thế nào, mức phạt cụ thể là bao nhiêu? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp thắc mắc trên.
1. Doanh nghiệp sa thải người lao động vì lý do mang thai bị phạt bao nhiêu?
Doanh nghiệp sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động vì lý do mang thai có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định mới.
Cụ thể, tại điểm i khoản 2 Điều 26 Nghị định 283 2026 NĐ-CP quy định:
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
…
i) Sa thải người lao động hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
…
Đáng chú ý, mức phạt trên chỉ áp dụng đối với cá nhân vi phạm. Trường hợp tổ chức vi phạm thì mức phạt đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân (theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP).
Như vậy, từ quy định trên, trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc chỉ vì lý do người lao động đang mang thai sẽ bị phạt tiền với mức sau:
- Đối với cá nhân vi phạm: 10 - 20 triệu đồng;
- Tổ chức, doanh nghiệp: 20 - 40 triệu đồng.
Ngoài hành vi sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng vì lý do mang thai, mức phạt trên cũng áp dụng đối với các trường hợp người sử dụng lao động:
- Sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do người lao động kết hôn;
- Sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong thời gian người lao động nghỉ thai sản;
- Sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt như người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết; hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc không còn người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật theo quy định.
Bên cạnh hình thức phạt tiền, doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nhận người lao động trở lại làm việc theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

2. Doanh nghiệp sử dụng lao động nữ mang thai làm thêm giờ có bị phạt?
Theo tại khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa khi người lao động:
- Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc mang thai từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
- Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.
Mặt khác, điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 283 2026 NĐ-CP, người sử dụng lao động bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng nếu sử dụng người lao động thuộc trong trường hợp sau:
Sử dụng người lao động mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo làm thêm giờ hoặc làm việc ban đêm hoặc đi công tác xa.
Như vậy, người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động đang mang thai từ tháng thứ 7 để làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa kể cả khi người lao đồng đồng ý. Nếu vi phạm có thể bị phạt từ 10 - 20 triệu đồng.
3. Không cho lao động nữ nghỉ 30 ngày “đèn đỏ”, NSDLĐ bị phạt đến 20 triệu đồng
Theo điểm d khoản 2 Điều 26 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có hành vi không cho lao động nữ nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác, bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng.
Theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức (doanh nghiệp) vi phạm thì mức phạt gấp đôi, tương ứng 20 - 40 triệu đồng. Tuy nhiên, theo quy định về mức phạt tối đa đối với hành vi này, doanh nghiệp có thể bị xử phạt đến 30 triệu đồng.
Ngoài việc bị xử phạt tiền, doanh nghiệp còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Cụ thể, theo điểm a khoản 3 Điều 26 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động buộc phải trả tiền lương cho lao động nữ tương ứng với thời gian người lao động không được nghỉ trong thời gian hành kinh theo quy định của pháp luật.
Trên đây là thông tin về Doanh nghiệp sa thải người lao động vì lý do mang thai bị phạt bao nhiêu?
RSS