AI giải đáp về đăng ký doanh nghiệp theo luật mới

Nội dung dưới đây LuatVietnam tổng hợp một số câu hỏi, tình huống được người dùng hỏi trên AI Luật - Trợ lý LuatVietnam.vn về đăng ký doanh nghiệp theo luật mới.
Câu hỏi: Ông A muốn thành lập Công ty TNHH MP nhưng do đang có nhiều khoản nợ cá nhân nên nhờ bà B đứng tên làm chủ sở hữu công ty. Toàn bộ số vốn điều lệ 5 tỷ đồng do ông A chuyển tiền để bà B góp vốn và bà B không tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp. Sau 1 năm hoạt động, công ty phát sinh tranh chấp với đối tác. Cơ quan đăng ký kinh doanh phát hiện bà B chỉ là người đứng tên thay, không thực sự là chủ sở hữu vốn. Việc bà B đứng tên chủ sở hữu Công ty TNHH MP thay cho ông A có phù hợp quy định về đăng ký doanh nghiệp không?

AI Luật trả lời: Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Nghị định 168/2025/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 296/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 23/7/2026 thì:

“1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo. Chủ sở hữu, cổ đông, thành viên của công ty thực hiện đầy đủ quy định về tài sản góp vốn tại khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp, không đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh nghiệp.”

Như vậy, việc bà B đứng tên chủ sở hữu Công ty TNHH MP thay cho ông A, trong khi toàn bộ vốn điều lệ do ông A chuyển và bà B không thực sự là chủ sở hữu vốn, không tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, là hành vi đứng tên hộ, đứng tên thay cho người khác để góp vốn vào doanh nghiệp. Hành vi này không phù hợp với quy định về đăng ký doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại (ngày 31/7/2026).

Cơ quan đăng ký kinh doanh khi phát hiện trường hợp này có quyền xử lý theo quy định pháp luật, bao gồm việc yêu cầu điều chỉnh lại thông tin chủ sở hữu, thậm chí có thể xem xét xử lý vi phạm hành chính hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu có dấu hiệu gian dối, không trung thực trong hồ sơ đăng ký.
Tóm lại: Việc bà B đứng tên chủ sở hữu công ty thay cho ông A là không đúng quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp hiện hành. Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty không được phép đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh nghiệp.

Bạn nên lưu ý, mọi thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải trung thực, chính xác và đúng chủ thể góp vốn thực tế để đảm bảo quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên liên quan, tránh các rủi ro pháp lý về sau.

AI-Luat-giai-dap-ve-dang-ky-doanh-nghiep-theo-luat-moi
AI giải đáp 3 câu hỏi tình huống về đăng ký doanh nghiệp theo luật mới (Ảnh minh họa)
Câu hỏi: Công ty cổ phần SV nộp hồ sơ thay đổi người đại diện theo pháp luật qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Nhân viên phòng pháp chế của công ty sử dụng tài khoản định danh điện tử cá nhân của mình để đăng nhập và nộp hồ sơ. Sau khi tiếp nhận, cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu xác định người nộp hồ sơ có đúng thẩm quyền hay không. Nhân viên pháp chế có được sử dụng tài khoản định danh điện tử cá nhân để thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp không?

AI Luật trả lời: Căn cứ vào Điều 43 Nghị định 168/2025/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, Quyết định 2354/QĐ-BTC của Bộ Tài chính (cụ thể tại thủ tục đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần), quy định về cách thức thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật như sau:

  • Người nộp hồ sơ có thể thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo ba phương thức:
    • Đăng ký trực tiếp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh.
    • Đăng ký qua dịch vụ bưu chính.
    • Đăng ký trực tuyến qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, sử dụng tài khoản định danh điện tử để đăng nhập, kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, ký số hoặc ký xác thực hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử và thanh toán phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy trình trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Tuy nhiên, việc sử dụng tài khoản định danh điện tử cá nhân để nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp chỉ hợp lệ khi người sử dụng tài khoản đó là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp hoặc là người được người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp ủy quyền, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo giấy tờ chứng minh việc ủy quyền theo quy định tại Điều 12 Nghị định 168/2025/NĐ-CP.

Như vậy, nhân viên phòng pháp chế của công ty cổ phần SV chỉ được sử dụng tài khoản định danh điện tử cá nhân của mình để thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật nếu thuộc một trong hai trường hợp sau:

  • Là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật (ví dụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, hoặc người được bầu tạm thời làm Chủ tịch theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 43 Nghị định 168/2025/NĐ-CP).
  • Được người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật ủy quyền hợp pháp và hồ sơ có kèm theo giấy tờ chứng minh việc ủy quyền.

Nếu nhân viên pháp chế không thuộc các trường hợp trên thì việc sử dụng tài khoản định danh điện tử cá nhân để nộp hồ sơ là không đúng thẩm quyền, hồ sơ sẽ không được chấp nhận.

Tóm lại:

  • Nhân viên pháp chế chỉ được sử dụng tài khoản định danh điện tử cá nhân để thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp khi là người có thẩm quyền hoặc được ủy quyền hợp pháp.
  • Nếu không phải là người có thẩm quyền hoặc không được ủy quyền hợp pháp, việc sử dụng tài khoản định danh điện tử cá nhân để nộp hồ sơ là không đúng quy định.

Bạn có thể tham khảo chi tiết quy định tại:

Câu hỏi: Công ty TNHH HG đăng ký thành lập với vốn điều lệ 20 tỷ đồng. Trong hồ sơ đăng ký, các thành viên cam kết đã chuẩn bị đủ tài sản góp vốn. Tuy nhiên, sau thời hạn góp vốn, cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện: Một thành viên mới góp được 500 triệu đồng thay vì 5 tỷ đồng như cam kết; Một phần tài sản góp vốn chỉ tồn tại trên giấy tờ, không có thực tế.Công ty TNHH HG có vi phạm quy định về đăng ký doanh nghiệp không?

AI trả lời: Căn cứ vào Điều 47 Luật Doanh nghiệp, số 59/2020/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, quy định về việc góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên như sau:

  1. Thành viên phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản. Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết. Thành viên công ty chỉ được góp vốn cho công ty bằng loại tài sản khác với tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của trên 50% số thành viên còn lại.
  2. Sau thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà vẫn có thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ phần vốn góp đã cam kết thì được xử lý như sau: a) Thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty; b) Thành viên chưa góp đủ phần vốn góp đã cam kết có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp; c) Phần vốn góp chưa góp của các thành viên được chào bán theo nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên.
  3. Trường hợp có thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ phần vốn góp theo quy định tại khoản 2 Điều này. Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên.

Ngoài ra, căn cứ vào khoản 5 Điều 16 Luật Doanh nghiệp, số 59/2020/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi điểm 5 khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, quy định:

  1. Kê khai khống vốn điều lệ thông qua hành vi không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký mà không thực hiện đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ theo quy định của pháp luật; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị.

Đồng thời, hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là hành vi bị nghiêm cấm và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 43 Nghị định 122/2021/NĐ-CP của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Nghị định 288/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 21/7/2026:

Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện; hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh; hồ sơ thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, thông báo lập địa điểm kinh doanh; hồ sơ giải thể doanh nghiệp; thông tin chủ sở hữu hưởng lợi, thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ thông báo thay đổi thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, thông báo thay đổi thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

Tóm lại:

  • Việc thành viên chỉ góp 500 triệu đồng thay vì 5 tỷ đồng như cam kết, và một phần tài sản góp vốn chỉ tồn tại trên giấy tờ, không có thực tế là hành vi không góp đủ vốn điều lệ, kê khai không trung thực về tài sản góp vốn.
  • Công ty TNHH HG đã vi phạm quy định về đăng ký doanh nghiệp, cụ thể là vi phạm về việc kê khai không trung thực về vốn điều lệ, tài sản góp vốn và không góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết.
  • Công ty và các thành viên liên quan có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật, bao gồm việc buộc điều chỉnh vốn điều lệ, chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính phát sinh, và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính tùy theo mức độ vi phạm.

Nếu cần giải quyết tranh chấp hoặc xác định trách nhiệm cụ thể, các bên có thể yêu cầu tòa án hoặc trọng tài giải quyết theo quy định của pháp luật.

Nếu bạn cần trích dẫn hoặc tham khảo nội dung cụ thể của các điều luật, vui lòng nhấn vào các đường dẫn đã được gắn trong câu trả lời.

Một số đặc điểm nổi bật của AI Luật - Trợ lý LuatVietnam.vn
- Được huấn luyện trên hệ thống văn bản Đúng - Đủ - Sạch - Sống
- Có đầy đủ căn cứ pháp lý (mới nhất) ở mỗi câu trả lời
- Văn phong tự nhiên như trò chuyện với chuyên gia
Trải nghiệm ngay TẠI ĐÂY
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Doanh nghiệp được chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động trong trường hợp nào?

Doanh nghiệp được chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động trong trường hợp nào?

Doanh nghiệp được chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động trong trường hợp nào?

Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có thể phát sinh nhu cầu tạm thời bố trí người lao động làm công việc khác với thỏa thuận ban đầu. Vậy pháp luật cho phép doanh nghiệp thực hiện việc điều chuyển này trong những trường hợp nào và phải bảo đảm điều kiện gì?