- 1. Từ 01/9/2026, giáo viên nghỉ hưu được ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tại cơ sở giáo dục
- 2. Từ 01/9/2026, lao động làm công việc đặc biệt trên biển chỉ làm tối đa 6 giờ mỗi ngày
- 3. Từ 10/9/2026, doanh nghiệp không đăng ký thông tin lao động bị phạt tới 20 triệu đồng
- 4. Từ 15/9/2026, bãi bỏ Thông tư hướng dẫn chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện
1. Từ 01/9/2026, giáo viên nghỉ hưu được ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tại cơ sở giáo dục
Ngày 15/7/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT, quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian và nhà giáo thỉnh giảng sau khi nghỉ hưu. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026.
Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT, hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu là sự thỏa thuận lao động giữa cơ sở giáo dục với nhà giáo sau khi nghỉ hưu, được xác lập dưới hình thức hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
Quy định này áp dụng đối với nhà giáo làm việc toàn thời gian theo hợp đồng sau khi nghỉ hưu; các cơ sở giáo dục cùng cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Qua đó, cơ sở giáo dục có thêm cơ sở pháp lý để tiếp tục sử dụng những nhà giáo có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu khoa học phù hợp với nhu cầu thực tế.
Theo Điều 3 Thông tư 59, việc giao kết hợp đồng phải bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai và minh bạch; phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tế và chiến lược phát triển đội ngũ của cơ sở giáo dục. Việc sử dụng nhà giáo sau khi nghỉ hưu cũng không được ảnh hưởng đến kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và phát triển đội ngũ nhà giáo kế cận.
Hợp đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động. Riêng đối với đơn vị sự nghiệp công lập, việc ký kết và thực hiện hợp đồng còn phải tuân thủ Nghị định 235/2026/NĐ-CP về hợp đồng thực hiện công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Điều 4 Thông tư 59 quy định nhà giáo sau khi nghỉ hưu muốn ký hợp đồng làm việc toàn thời gian phải có phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp tốt; đủ sức khỏe theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền; đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và năng lực nghề nghiệp của vị trí việc làm; có khả năng ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy và đáp ứng các điều kiện khác do cơ sở giáo dục yêu cầu.
Về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, Điều 5 Thông tư cho phép các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng phải tuân thủ pháp luật lao động và chế độ làm việc của nhà giáo. Hình thức và thời gian làm việc có thể được thỏa thuận linh hoạt, phù hợp với độ tuổi, tình trạng sức khỏe của người lao động cao tuổi, qua đó phát huy năng lực chuyên môn và kinh nghiệm của nhà giáo.
Đáng chú ý, theo khoản 1 Điều 7, kết quả công tác của nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu được sử dụng làm căn cứ xác định năng lực đào tạo, quy mô tuyển sinh và kiểm định chất lượng theo quy định. Tuy nhiên, đội ngũ này không được sử dụng để thay thế các điều kiện bắt buộc về nhà giáo cơ hữu. Cơ sở giáo dục cũng phải bảo đảm tỷ lệ nhà giáo nghỉ hưu làm việc toàn thời gian không vượt quá mức tối đa do pháp luật về giáo dục quy định.

2. Từ 01/9/2026, lao động làm công việc đặc biệt trên biển chỉ làm tối đa 6 giờ mỗi ngày
Cũng từ ngày 01/9/2026, Thông tư 56/2026/TT-BXD của Bộ Xây dựng chính thức có hiệu lực. Thông tư quy định thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động thực hiện công việc có tính chất đặc biệt trên biển trong hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công bảo đảm an toàn hàng hải.
Theo Điều 4 Thông tư 56/2026/TT-BXD, thời giờ làm việc của người lao động thuộc phạm vi điều chỉnh được bố trí theo ca và không quá 6 giờ trong một ngày.
Quy định này áp dụng đối với người lao động thực hiện những công việc đặc thù như vận hành, bảo trì đăng tiêu độc lập, báo hiệu chướng ngại vật biệt lập và báo hiệu phương vị; kiểm tra tổng quan, bảo trì báo hiệu hàng hải; kiểm tra thường xuyên đê, kè trên luồng hàng hải; sơn, bảo dưỡng báo hiệu hàng hải; thay, thả, điều chỉnh, thu hồi phao báo hiệu hàng hải; tiếp tế cho các trạm đèn biển và trạm quản lý luồng.
Đây đều là những công việc được thực hiện trong điều kiện lao động đặc biệt, chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường biển, thời tiết và yêu cầu bảo đảm an toàn hàng hải. Việc giới hạn thời gian làm việc theo ca nhằm bảo đảm sức khỏe, khả năng phục hồi và mức độ an toàn của người lao động trong quá trình làm việc.
Ngoài thời gian làm việc trong ca, Thông tư còn giới hạn thời gian làm thêm không quá 50% số giờ làm việc của ca làm việc trong một ngày và không quá 300 giờ trong một năm. Việc tổ chức làm thêm giờ phải có sự đồng ý của người lao động.
Theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 56, sau mỗi ca làm việc, người lao động phải được bố trí nghỉ liên tục ít nhất 12 giờ trước khi bắt đầu ca làm việc tiếp theo. Người sử dụng lao động cần căn cứ quy định này để xây dựng lịch làm việc, bố trí ca kíp và huy động làm thêm giờ phù hợp, tránh trường hợp thời gian nghỉ giữa hai ca không đáp ứng yêu cầu tối thiểu.
3. Từ 10/9/2026, doanh nghiệp không đăng ký thông tin lao động bị phạt tới 20 triệu đồng
Ngày 10/9/2026, Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chính thức có hiệu lực.
Một trong những nội dung doanh nghiệp cần lưu ý là mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động tại Điều 12 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.
Theo đó, người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không cung cấp thông tin, cung cấp không đầy đủ hoặc cung cấp thông tin không chính xác để làm căn cứ đăng ký lao động có thể bị phạt tiền từ 1 - 2 triệu đồng.
Đối với người sử dụng lao động, hành vi không thực hiện đăng ký hoặc điều chỉnh thông tin đăng ký lao động cho người lao động khi nộp hồ sơ đăng ký, điều chỉnh thông tin tham gia bảo hiểm xã hội sẽ bị xử phạt theo số lượng người lao động bị vi phạm.
Cụ thể, mức phạt từ 5 - 10 triệu đồng được áp dụng nếu vi phạm liên quan đến từ 1 - 50 người lao động; từ 10 - 15 triệu đồng nếu vi phạm liên quan đến từ 51 - 100 người lao động; và từ 15 - 20 triệu đồng nếu vi phạm từ 101 người lao động trở lên.
Như vậy, mức phạt cao nhất đối với hành vi không đăng ký hoặc không điều chỉnh thông tin đăng ký lao động có thể lên đến 20 triệu đồng. Doanh nghiệp cần rà soát quy trình tiếp nhận, cập nhật thông tin và lập hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội để bảo đảm thông tin của người lao động được đăng ký đầy đủ, chính xác và kịp thời.
Nghị định 283 cũng quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội là một năm. Đối với vi phạm liên quan đến người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thời hiệu xử phạt là hai năm.
4. Từ 15/9/2026, bãi bỏ Thông tư hướng dẫn chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện
Ngày 30/7/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 111/2026/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 15/9/2026.
Theo Điều 1 Thông tư 111, toàn bộ Thông tư 86/2017/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 88/2016/NĐ-CP về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện bị bãi bỏ, ngoại trừ khoản 2 và khoản 3 Điều 3 được tiếp tục áp dụng trong thời gian chuyển tiếp.
Việc bãi bỏ Thông tư 86/2017/TT-BTC không đồng nghĩa với chấm dứt cơ chế hưu trí bổ sung. Trước đó, Nghị định 85/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/5/2026, đã thiết lập khuôn khổ pháp lý mới, toàn diện hơn về bảo hiểm hưu trí bổ sung, thay thế mô hình chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện trước đây.
Nghị định 85 quy định về đối tượng, điều kiện tham gia; quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động; việc thành lập, quản lý, đầu tư và giám sát quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; đồng thời xác định cơ chế chi trả quyền lợi cho người tham gia.
Bảo hiểm hưu trí bổ sung được thực hiện trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện giữa người sử dụng lao động và người lao động. Người sử dụng lao động không được coi việc tham gia là điều kiện tuyển dụng, gia hạn hợp đồng lao động hoặc gắn với khen thưởng, đánh giá thi đua. Mức đóng do các bên thỏa thuận và người lao động có tài khoản hưu trí cá nhân để theo dõi khoản đóng góp cùng kết quả đầu tư.
Người lao động còn được nhận quyền lợi trước tuổi nghỉ hưu trong một số trường hợp như mắc bệnh hiểm nghèo, suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc tử vong.
Đối với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí được thành lập theo Nghị định 88/2016/NĐ-CP, khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Thông tư 86/2017/TT-BTC tiếp tục được áp dụng trong thời gian điều chỉnh danh mục và cơ cấu đầu tư theo điểm c khoản 3 Điều 44 Nghị định 85/2026/NĐ-CP. Thời gian chuyển tiếp tối đa là 12 tháng kể từ ngày Nghị định 85 có hiệu lực, tương ứng đến khoảng ngày 10/5/2027.
Trước khi bị bãi bỏ, Thông tư 86 quy định chi tiết về đầu tư, kế toán, xác định giá trị tài sản ròng, chế độ báo cáo và giám sát quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện. Việc ban hành Thông tư 111 vì vậy là bước hoàn thiện quá trình chuyển tiếp từ khuôn khổ pháp lý cũ sang cơ chế bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Nghị định 85/2026/NĐ-CP.
Trên đây là Chính sách mới về lao động, tiền lương có hiệu lực tháng 9/2026.
👉 Tham gia group Zalo để nhận link Webinar.
RSS