AI Luật trả lời: Căn cứ vào khoản 35 Điều 4 Luật Doanh nghiệp, số 59/2020/QH14 được bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 thì:
“Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp có tư cách pháp nhân (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp) là cá nhân có quyền sở hữu trên thực tế vốn điều lệ hoặc có quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó, trừ trường hợp người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.”
Căn cứ vào Điều 17 và Điều 18 Nghị định 168/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 296/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/7/2026 thì:
Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp. Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân được xác định như sau:
- Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp. …
- Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.
- Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 1,2 Điều này, doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.
Và:
Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 17 Nghị định này và kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp. Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp thông qua việc rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi xác định được cá nhân có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế. Trường hợp trong cơ cấu sở hữu có thỏa thuận pháp lý theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền thì chủ sở hữu hưởng lợi của thỏa thuận pháp lý được xác định theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.
Như vậy, theo quy định hiện hành, khi thực hiện thủ tục thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi. Chủ sở hữu hưởng lợi là cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ trở lên, hoặc có quyền kiểm soát, chi phối thực tế đối với doanh nghiệp, kể cả trường hợp không đứng tên góp vốn nhưng thông qua hợp đồng, thỏa thuận thực tế kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Do đó, trường hợp cá nhân không đứng tên góp vốn nhưng thông qua nhiều hợp đồng và thỏa thuận thực tế kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải kê khai người này là chủ sở hữu hưởng lợi khi thực hiện thủ tục thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
Tóm lại: Công ty TNHH AP phải kê khai cá nhân này là chủ sở hữu hưởng lợi trong hồ sơ thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp nếu cá nhân đó thực tế kiểm soát, chi phối doanh nghiệp dù không đứng tên góp vốn.

AI Luật trả lời: Căn cứ vào khoản 1 Điều 31 Luật Doanh nghiệp, số 59/2020/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 thì:
“1. Doanh nghiệp phải thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh khi có thay đổi một trong các nội dung sau đây: a) Ngành, nghề kinh doanh; b) Cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần, trừ trường hợp đối với công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán; c) Thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, trừ trường hợp đối với công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán; d) Nội dung khác trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.”
Ngoài ra, căn cứ vào khoản 5a Điều 8 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15:
“5a. Thu thập, cập nhật, lưu giữ thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp khi được yêu cầu.”
Về tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi, căn cứ vào Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 3 Nghị định 296/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/7/2026 thì:
“Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp… Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân được xác định như sau:
- Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp…
- Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế…
- Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 1,2 Điều này, doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.”
Về trình tự, thủ tục cập nhật thông tin chủ sở hữu hưởng lợi, căn cứ vào Điều 52 Nghị định 168/2025/NĐ-CP:
“1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có sự thay đổi thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp hoặc tỷ lệ sở hữu đã kê khai với Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh… doanh nghiệp thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh. Hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau đây: a) Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; b) Danh sách chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trao giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả, cập nhật dữ liệu vào Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ…”
Về hướng dẫn chi tiết thủ tục, căn cứ vào Quyết định 2354/QĐ-BTC, mục 14, trình tự thực hiện như sau:
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có sự thay đổi thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp hoặc tỷ lệ sở hữu đã kê khai, doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh.
- Hồ sơ gồm: Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và Danh sách chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
- Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trao giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả, cập nhật dữ liệu vào Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
Tóm lại:
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ cập nhật thông tin chủ sở hữu hưởng lợi khi có thay đổi, kể cả trường hợp chủ sở hữu hưởng lợi không đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
- Việc cập nhật phải thực hiện trong vòng 10 ngày kể từ ngày phát sinh thay đổi.
- Hồ sơ gồm Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và Danh sách chủ sở hữu hưởng lợi.
- Thủ tục nộp tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, có thể thực hiện trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến.
Nếu doanh nghiệp không thực hiện cập nhật thông tin chủ sở hữu hưởng lợi đúng quy định, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 44 Nghị định 122/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 2 Nghị định 288/2026/NĐ-CP với mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng tùy theo mức độ vi phạm và thời gian chậm trễ.
Bạn có thể tham khảo chi tiết thủ tục tại Quyết định 2354/QĐ-BTC.
AI Luật trả lời: Căn cứ vào khoản 35 Điều 4 Luật Doanh nghiệp, số 59/2020/QH14 được bổ sung bởi điểm d khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 thì:
“Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp có tư cách pháp nhân (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp) là cá nhân có quyền sở hữu trên thực tế vốn điều lệ hoặc có quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó, trừ trường hợp người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.”
Về nghĩa vụ cung cấp thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, căn cứ vào khoản 5a Điều 8 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15:
“Thu thập, cập nhật, lưu giữ thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp khi được yêu cầu.”
Ngoài ra, về quyền yêu cầu cung cấp thông tin này, căn cứ vào khoản 1a Điều 33 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15 và khoản 5 Điều 74 Nghị định 168/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2025:
“Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật có quyền đề nghị Cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh cung cấp thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp được lưu giữ trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để phục vụ công tác về phòng, chống rửa tiền và không phải trả phí.”
Tóm lại:
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi khi có yêu cầu từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt để phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền.
- Các chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin này là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (ví dụ: cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan phòng chống rửa tiền, cơ quan công an, cơ quan thuế…).
- Ngân hàng là đối tượng báo cáo theo Luật Phòng, chống rửa tiền, số 14/2022/QH15, có quyền và nghĩa vụ thu thập, xác minh thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi khi khách hàng mở tài khoản thanh toán, phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền.
Như vậy, doanh nghiệp không thể từ chối cung cấp thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi khi ngân hàng yêu cầu để phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền theo quy định pháp luật hiện hành.
- Có đầy đủ căn cứ pháp lý (mới nhất) ở mỗi câu trả lời
- Văn phong tự nhiên như trò chuyện với chuyên gia
Trải nghiệm ngay TẠI ĐÂY
RSS