- 1. Thống nhất quy định liên thông từ trung học nghề đến đại học
- 2. Không xây dựng một chương trình liên thông riêng
- 3. Thời gian học phụ thuộc vào kết quả được công nhận
- 4. Không phải học lại nội dung đã được công nhận
- 5. Phải hoàn thành ít nhất 50% chương trình tại cơ sở cấp bằng
- 6. Tuyển sinh liên thông thực hiện theo quy chế của từng trình độ
- 7. Quy định riêng đối với một số ngành sức khỏe
- 8. Cơ sở giáo dục phải công khai quy trình công nhận tín chỉ
- 9. Quy định chuyển tiếp đối với người đang học liên thông
Ngày 30/6/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT quy định về liên thông giữa trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/8/2026. So với quy định trước đây, việc học liên thông từ ngày 15/8/2026 có một số thay đổi đáng chú ý sau:
1. Thống nhất quy định liên thông từ trung học nghề đến đại học
Trước đây, việc đào tạo liên thông được quy định tại nhiều văn bản khác nhau, như:
- Thông tư 27/2017/TT-BLĐTBXH quy định về liên thông giữa trình độ sơ cấp với trung cấp và giữa trung cấp với cao đẳng;
- Quyết định 18/2017/QĐ-TTg quy định về liên thông từ trung cấp, cao đẳng lên đại học.
Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT thiết lập quy định chung về liên thông giữa 4 trình độ gồm trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học.
Việc liên thông được thực hiện theo 2 hình thức:
- Liên thông giữa các trình độ đào tạo, theo đó người học sử dụng kết quả đã tích lũy để tiếp tục học ở trình độ khác.
- Liên thông trong cùng trình độ đào tạo, theo đó người học sử dụng kết quả đã tích lũy để hoàn thành một chương trình đào tạo khác trong cùng trình độ.
Như vậy, liên thông không chỉ là học từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn mà còn bao gồm việc chuyển tiếp giữa các chương trình trong cùng trình độ đào tạo.
2. Không xây dựng một chương trình liên thông riêng
Theo quy định trước đây tại Thông tư 27/2017/TT-BLĐTBXH, cơ sở giáo dục phải xây dựng chương trình đào tạo liên thông theo nguyên tắc kế thừa, tích hợp và bổ sung kiến thức, kỹ năng mà người học còn thiếu.
Từ ngày 15/8/2026, theo Điều 5 Thông tư 52 2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình áp dụng đối với người học liên thông là chương trình đào tạo hiện hành của trình độ tương ứng do cơ sở giáo dục ban hành.
Khối lượng học tập thực tế của từng người được xác định căn cứ vào kết quả học tập được công nhận, số tín chỉ được chuyển đổi và các học phần, môn học, mô-đun còn phải hoàn thành để đáp ứng chuẩn đầu ra, điều kiện tốt nghiệp.
Quy định mới chuyển trọng tâm từ việc xây dựng một chương trình liên thông riêng sang việc xác định phần kiến thức người học đã tích lũy và phần kiến thức còn thiếu trong chương trình cấp bằng.

3. Thời gian học phụ thuộc vào kết quả được công nhận
Trước đây, Thông tư 27/2017/TT-BLĐTBXH quy định thời gian đào tạo liên thông theo niên chế từ trung cấp lên cao đẳng là từ 1 đến 2 năm học, tùy ngành, nghề đào tạo.
Trong khi đó, Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT không quy định một khoảng thời gian học liên thông chung. Cơ sở giáo dục xác định lộ trình học tập của từng người dựa trên kết quả học tập được công nhận, tín chỉ được chuyển đổi và khối lượng học tập còn phải hoàn thành.
Do đó, thời gian học liên thông thực tế có thể khác nhau giữa những người cùng học một chương trình, tùy thuộc vào văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập mà mỗi người đã tích lũy.
4. Không phải học lại nội dung đã được công nhận
Theo khoản 4 Điều 3 Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT, Thủ trưởng cơ sở giáo dục có trách nhiệm công nhận kết quả học tập đã tích lũy nếu kết quả đó đáp ứng chuẩn đầu ra tương đương.
Người học không phải học lại hoặc tham gia đánh giá đối với học phần, môn học, mô-đun đã được công nhận, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác hoặc cần bảo đảm khối lượng học tập tối thiểu phải hoàn thành tại cơ sở cấp bằng.
Các kết quả có thể được xem xét công nhận gồm học phần, môn học, mô-đun, chứng chỉ giáo dục đại học, kết quả của chương trình đào tạo nước ngoài được công nhận, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và các kết quả học tập khác được cấp hoặc công nhận theo quy định.
Việc công nhận không được thực hiện tự động mà phải dựa trên việc đối sánh chuẩn đầu ra, nội dung, khối lượng học tập, phương pháp đánh giá và mức độ đạt được của người học.
5. Phải hoàn thành ít nhất 50% chương trình tại cơ sở cấp bằng
Mặc dù được công nhận kết quả học tập đã tích lũy, người học liên thông vẫn phải hoàn thành một khối lượng học tập tối thiểu tại cơ sở cấp bằng.
Cụ thể, tại khoản 5 Điều 8 Thông tư 52 2026 TT BTC cơ sở giáo dục phải quy định khối lượng học tập người học phải hoàn thành tại cơ sở cấp bằng nhưng không được thấp hơn 50% tổng khối lượng của chương trình đào tạo cấp bằng.
Cơ sở giáo dục được quy định tỷ lệ cao hơn nhưng phải bảo đảm chuẩn đầu ra, điều kiện tốt nghiệp và chất lượng đào tạo; đồng thời phải công khai, giải trình về tỷ lệ áp dụng.
6. Tuyển sinh liên thông thực hiện theo quy chế của từng trình độ
Theo Điều 6 Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT, tuyển sinh đào tạo liên thông được thực hiện theo quy chế tuyển sinh hiện hành của trình độ đào tạo tương ứng.
Người dự tuyển phải đáp ứng điều kiện dự tuyển, ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào, yêu cầu của chương trình đào tạo và yêu cầu về văn bằng hoặc các điều kiện đầu vào khác.
Bên cạnh đó, số lượng tuyển sinh đào tạo liên thông được tính trong tổng số lượng tuyển sinh của chương trình đào tạo tương ứng và được xác định theo quy định hiện hành.
Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT không quy định riêng các môn thi hoặc phương thức tổ chức kỳ thi liên thông mà thực hiện theo quy chế tuyển sinh hiện hành của từng trình độ.
7. Quy định riêng đối với một số ngành sức khỏe
Đối với liên thông lên trình độ đại học các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe, cơ sở giáo dục đại học chỉ được tổ chức đào tạo liên thông đối với ngành đã có ít nhất một khóa sinh viên đại học chính quy tốt nghiệp.
Không được tổ chức đào tạo liên thông theo hình thức đào tạo thường xuyên đối với các ngành Y khoa, Y học cổ truyền, Y học dự phòng, Răng Hàm Mặt và Dược học.
Đối với các ngành sức khỏe có cấp giấy phép hành nghề khác, không được công nhận kết quả học tập từ chương trình ngoài lĩnh vực sức khỏe để thay thế các học phần chuyên môn cốt lõi.
8. Cơ sở giáo dục phải công khai quy trình công nhận tín chỉ
Điều 9 Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT yêu cầu cơ sở giáo dục phải ban hành và công khai quy định nội bộ về đào tạo liên thông.
Quy định nội bộ phải nêu rõ điều kiện dự tuyển, quy trình tuyển sinh, tiêu chí công nhận kết quả học tập, quy trình chuyển đổi tín chỉ, thành phần và nhiệm vụ của hội đồng đánh giá, thời hạn giải quyết hồ sơ, trình tự giải quyết kiến nghị, khiếu nại và thu hồi kết quả công nhận.
Các nội dung này phải được công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục. Cơ sở giáo dục cũng phải lưu trữ, số hóa hồ sơ và cập nhật dữ liệu người học trên hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục đại học.
9. Quy định chuyển tiếp đối với người đang học liên thông
Người đã trúng tuyển hoặc đang học chương trình liên thông trước ngày 15/8/2026 được tiếp tục học theo quy định tại thời điểm tuyển sinh cho đến khi hoàn thành chương trình hoặc hết thời gian đào tạo tối đa.
Đối với hồ sơ công nhận kết quả học tập, chuyển đổi tín chỉ đã được tiếp nhận nhưng chưa giải quyết, cơ sở giáo dục có thể áp dụng Thông tư 52/2026/TT-BGDĐT nếu không làm giảm quyền lợi của người học. Trường hợp quy định tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ có lợi hơn thì tiếp tục áp dụng quy định đó.
Từ ngày 15/8/2026, các nội dung về đào tạo liên thông giữa các trình độ giáo dục nghề nghiệp tại Thông tư 27/2017/TT-BLĐTBXH hết hiệu lực.
Trên đây là Quy định về học liên thông thay đổi thế nào từ 15/8/2026?
RSS