Các thành phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học được quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 125/2026/NĐ-CP. Cùng theo dõi thông tin chi tiết trong bài viết dưới đây.
- 1. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học gồm những thành phần nào?
- 1.1. Trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ
- 1.2. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
- 1.3. Tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ
- 1.4. Doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ và vốn đầu tư vào doanh nghiệp khoa học và công nghệ
- 1.5. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ
- 1.6. Nhóm nghiên cứu tiềm năng, nhóm nghiên cứu mạnh
- 1.7. Không gian sáng tạo và khu làm việc chung
- 1.8. Mạng lưới cựu sinh viên, chuyên gia và doanh nghiệp đối tác
- 2. Trường đại học phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bằng cách nào?
- 2.1. Xây dựng cơ chế vận hành và chia sẻ lợi ích
- 2.2. Sử dụng quỹ để hỗ trợ nghiên cứu, ươm tạo và khởi nghiệp
- 2.3. Phát triển đội ngũ trung gian và mạng lưới cố vấn
- 2.4. Hỗ trợ giảng viên, người học tham gia doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạ0
- 2.5. Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, vườn ươm và kết nối chuyển giao công nghệ
- 3. Trường đại học được sử dụng nguồn nào để hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp?
1. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học gồm những thành phần nào?
Theo khoản 1 Điều 11 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm xây dựng và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy thương mại hóa tri thức, hình thành và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời bảo đảm sự liên thông giữa hoạt động nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học.
Cụ thể, khoản 2 Điều 11 Nghị định này xác định hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gồm 08 thành phần sau
1.1. Trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ
Đây là một trong những thành phần được Nghị định 125/2026/NĐ-CP xác định trực tiếp thuộc hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học.
Bên cạnh đó, Nghị định cho phép cơ sở giáo dục đại học thành lập hoặc tham gia thành lập trung tâm xúc tiến chuyển giao công nghệ; tham gia, liên kết, hợp tác hoặc sử dụng dịch vụ của trung tâm dịch vụ ươm tạo, sàn giao dịch công nghệ.
1.2. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cũng là một thành phần của hệ sinh thái.
Quy định này gắn với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái được nêu tại khoản 1 Điều 11, trong đó nhấn mạnh việc hình thành và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học.
1.3. Tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ
Hệ sinh thái còn có tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ.
Đáng chú ý, khi quy định về các biện pháp phát triển hệ sinh thái, Nghị định yêu cầu tăng cường vai trò của tổ chức trung gian thị trường khoa học và công nghệ trong tư vấn, đàm phán, môi giới công nghệ và kết nối doanh nghiệp.
1.4. Doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ và vốn đầu tư vào doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Một thành phần khác là doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ và vốn đầu tư vào doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Việc đưa chủ thể này vào hệ sinh thái phù hợp với định hướng khai thác, thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nghị định cũng dành riêng Điều 10 để quy định về quản lý, khai thác tài sản trí tuệ, kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong cơ sở giáo dục đại học.
1.5. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ là một thành phần quan trọng khác.
Theo Điều 20 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học được thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ và chịu trách nhiệm toàn diện về hiệu quả hoạt động của Quỹ.
Riêng trong phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Quỹ có thể được sử dụng cho các hoạt động như nghiên cứu, ươm tạo công nghệ, phát triển sản phẩm thử nghiệm, xúc tiến thương mại, tư vấn pháp lý và đào tạo kỹ năng đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp cho giảng viên, người học theo quy định pháp luật.
1.6. Nhóm nghiên cứu tiềm năng, nhóm nghiên cứu mạnh
Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo còn bao gồm nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh trong cơ sở giáo dục đại học.
Theo Điều 6 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học căn cứ nhu cầu, tiềm lực và chiến lược phát triển của mình để xây dựng hai loại nhóm nghiên cứu này. Trong đó, nhóm nghiên cứu tiềm năng có ít nhất 03 thành viên; nhóm nghiên cứu mạnh có ít nhất 05 thành viên.
1.7. Không gian sáng tạo và khu làm việc chung
Nghị định còn xác định không gian sáng tạo và khu làm việc chung là một thành phần của hệ sinh thái.
Các không gian này được dành để giảng viên và người học thực hiện:
- Nghiên cứu
- Thử nghiệm
- Ươm tạo ý tưởng
- Tư vấn
- Kết nối với doanh nghiệp và nhà đầu tư.
- Kết nối với doanh nghiệp và nhà đầu tư.Như vậy, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học không chỉ được cấu thành bởi các tổ chức mà còn bao gồm cả hạ tầng, không gian hỗ trợ trực tiếp cho nghiên cứu và phát triển ý tưởng.
1.8. Mạng lưới cựu sinh viên, chuyên gia và doanh nghiệp đối tác
Thành phần cuối cùng được khoản 2 Điều 11 liệt kê là mạng lưới cựu sinh viên, chuyên gia và doanh nghiệp đối tác. Nghị định đồng thời yêu cầu phát triển mạng lưới cố vấn gồm cựu sinh viên, nhà khoa học, doanh nhân, nhà đầu tư. Đây là một trong những biện pháp được sử dụng để thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại cơ sở giáo dục đại học.

2. Trường đại học phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bằng cách nào?
Không chỉ quy định các thành phần, khoản 3 Điều 11 Nghị định 125/2026/NĐ-CP còn xác định những hoạt động mà cơ sở giáo dục đại học thực hiện để thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
2.1. Xây dựng cơ chế vận hành và chia sẻ lợi ích
Cơ sở giáo dục đại học ban hành quy định vận hành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và xác lập vai trò điều phối của mình.
Đồng thời, trường phải quy định cơ chế phối hợp giữa các chủ thể, cơ chế đồng sở hữu và chia sẻ lợi ích minh bạch giữa cơ sở giáo dục đại học, giảng viên, người học và nhà đầu tư; bảo đảm công khai, minh bạch và tuân thủ pháp luật.
2.2. Sử dụng quỹ để hỗ trợ nghiên cứu, ươm tạo và khởi nghiệp
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ được sử dụng cho các hoạt động:
- Nghiên cứu;
- Ươm tạo công nghệ;
- Phát triển sản phẩm thử nghiệm;
- Xúc tiến thương mại;
- Tư vấn pháp lý;
- Đào tạo kỹ năng đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp cho giảng viên, người học.
Việc sử dụng Quỹ phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
2.3. Phát triển đội ngũ trung gian và mạng lưới cố vấn
Cơ sở giáo dục đại học phát triển các nhân sự trung gian như giảng viên kiêm cố vấn, nhà quản trị công nghệ, điều phối viên đổi mới sáng tạo.
Song song với đó là xây dựng mạng lưới cố vấn gồm cựu sinh viên, nhà khoa học, doanh nhân và nhà đầu tư; tăng cường vai trò của tổ chức trung gian thị trường khoa học và công nghệ trong tư vấn, đàm phán, môi giới công nghệ và kết nối doanh nghiệp.
2.4. Hỗ trợ giảng viên, người học tham gia doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạ0
Trường đại học có thể tạo điều kiện, hỗ trợ giảng viên, người học và nhà khoa học:
- Tham gia góp vốn;
- Tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp;
- Làm việc tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuộc hệ sinh thái của cơ sở giáo dục đại học.
Việc bố trí, sắp xếp công việc phải hợp lý để không ảnh hưởng đến nhiệm vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu, đồng thời phải phù hợp với quy định pháp luật.
2.5. Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, vườn ươm và kết nối chuyển giao công nghệ
Cơ sở giáo dục đại học còn thực hiện việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, vườn ươm, quỹ phát triển khoa học và công nghệ.
Trường được thành lập hoặc tham gia thành lập trung tâm xúc tiến chuyển giao công nghệ; tham gia, liên kết, hợp tác hoặc sử dụng dịch vụ của trung tâm dịch vụ ươm tạo, sàn giao dịch công nghệ.
3. Trường đại học được sử dụng nguồn nào để hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp?
Theo khoản 4 Điều 11 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học được sử dụng tài trợ của các tổ chức, cá nhân và nguồn từ quỹ phát triển khoa học và công nghệ để hỗ trợ:
- Hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp;
- Ươm tạo công nghệ;
- Phát triển sản phẩm thử nghiệm;
- Thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đồng thời, cơ sở giáo dục đại học được áp dụng cơ chế khoán chi theo thỏa thuận với nhà tài trợ và của cơ sở giáo dục đại học theo quy định của pháp luật. Theo khoản 1 Điều 11, cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm xây dựng và phát triển hệ sinh thái này nhằm thúc đẩy thương mại hóa tri thức, hình thành và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời bảo đảm sự liên thông giữa nghiên cứu - đào tạo - đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học.
Ngoài việc xác định các thành phần trên, Nghị định còn quy định cơ sở giáo dục đại học phải thúc đẩy hệ sinh thái thông qua các hoạt động như ban hành quy định vận hành, sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ, phát triển đội ngũ trung gian và mạng lưới cố vấn, hỗ trợ giảng viên và người học tham gia doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ vườn ươm và liên kết với các trung tâm, sàn giao dịch công nghệ.
RSS