Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày ký. Dưới đây là những điểm đáng chú ý của Nghị quyết 19-NQ/TW.
- 1. Xác lập mô hình phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo
- 2. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng kiến tạo phát triển, quản trị bằng dữ liệu và kết quả
- 3. Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo mô hình đa tầng, đa cực
- 4. Phát triển kinh tế biển, không gian tầm thấp, không gian vũ trụ và không gian ngầm
- 5. Dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được xác định là động lực phát triển mới
- 6. Phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất
- 7. Chuyển hệ thống y tế từ chữa bệnh sang phòng bệnh, từng bước miễn viện phí theo lộ trình
- 8. Đổi mới giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài
- 9. Phát triển thị trường tín chỉ các-bon và thúc đẩy tài chính xanh
- 10. Lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế
1. Xác lập mô hình phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo
Theo mục 2 Phần I Nghị quyết 19 NQ TW, đổi mới mô hình phát triển trước hết phải tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để hình thành năng lực phát triển mới.
Nghị quyết xác định lấy con người làm chủ thể trung tâm, đồng thời coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính của quá trình phát triển. Cùng với đó, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia được xác định là những nguyên tắc trung tâm.
Đến năm 2035, mục tiêu là chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao; kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu và kinh tế tuần hoàn trở thành những cấu trúc quan trọng của nền kinh tế.

2. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng kiến tạo phát triển, quản trị bằng dữ liệu và kết quả
Về thể chế và quản trị quốc gia, Nghị quyết yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển. Theo Mục 5 phần I Nghị quyết 19 NQ TW, quản trị quốc gia được thực hiện theo mục tiêu, dựa trên dữ liệu, tăng cường phối hợp liên thông, đo lường bằng kết quả và tác động phát triển.
Nhà nước tập trung xây dựng thể chế, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn và quản lý kết quả đầu ra; đồng thời đổi mới mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội theo hướng Nhà nước điều tiết, dẫn dắt và tạo lập các thị trường, lĩnh vực mới.
Nghị quyết cũng yêu cầu xây dựng Chính phủ số, dữ liệu dùng chung, nền tảng số theo dõi việc thực hiện nghị quyết, chiến lược và các chỉ tiêu phát triển; bảo đảm mọi nhiệm vụ đều xác định rõ người thực hiện, thẩm quyền, nguồn lực, thời gian và sản phẩm đầu ra.
3. Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo mô hình đa tầng, đa cực
Tại mục 2 Phần III phần về kinh tế, Nghị quyết định hướng tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực và liên kết đồng bộ giữa đất liền, vùng biển, vùng trời, lòng đất, không gian số và các không gian phát triển mới.
Theo đó, việc phát triển không còn chủ yếu dựa trên địa giới hành chính mà chuyển sang phát triển theo chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên, môi trường và liên kết vùng, liên kết ngành.
Nghị quyết yêu cầu việc tổ chức lại không gian phát triển phải gắn với bảo đảm tự chủ chiến lược quốc gia, nâng cao khả năng chống chịu của các vùng, các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế và chuỗi cung ứng trọng yếu.
Đồng thời, đẩy mạnh hình thành các hành lang kinh tế, trung tâm tài chính, trung tâm logistics, đô thị xanh, đô thị thông minh và các cực tăng trưởng có năng lực cạnh tranh quốc tế, tạo sự liên kết và lan tỏa giữa các vùng trên phạm vi cả nước.
4. Phát triển kinh tế biển, không gian tầm thấp, không gian vũ trụ và không gian ngầm
Theo Phần III về kinh tế, Việt Nam được định hướng trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và có năng lực cạnh tranh hàng đầu khu vực trong các ngành công nghiệp biển.
Biển được xác định là không gian phát triển chiến lược và là động lực tăng trưởng dài hạn; đồng thời phát triển công nghiệp hàng hải theo hướng hiện đại, xanh, số, tự chủ và lưỡng dụng.
Bên cạnh đó, Nghị quyết quy định phát triển kinh tế không gian tầm thấp trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng; khai thác hiệu quả không gian vũ trụ, hình thành hệ sinh thái kinh tế vũ trụ, làm chủ công nghệ vệ tinh và dữ liệu không gian.
Đối với các đô thị lớn và cực tăng trưởng, Nghị quyết yêu cầu phát triển mạnh không gian ngầm phục vụ tài chính, thương mại, logistics và giao thông công cộng.
5. Dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được xác định là động lực phát triển mới
Một điểm đáng chú ý khác của Nghị quyết là lần đầu xác định dữ liệu là tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược. Theo Phần III mục về kinh tế, dữ liệu khu vực công được yêu cầu công khai, minh bạch và có kiểm soát; đồng thời xây dựng cơ chế để quyền sở hữu trí tuệ trở thành căn cứ góp vốn, bảo lãnh tín dụng và khai thác thương mại.
Nghị quyết cũng xác định phát triển trí tuệ nhân tạo thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao; triển khai đồng bộ Chiến lược chuyển đổi trí tuệ nhân tạo quốc gia; ưu tiên phát triển hạ tầng tính toán quốc gia, mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, các nền tảng dùng chung và nền tảng công dân số.
Cùng với đó là phát triển hạ tầng số, dữ liệu, năng lực tính toán, Trung tâm dữ liệu quốc gia và các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, trung tâm xuất sắc về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và điện toán lượng tử nhằm phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

6. Phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất
Cũng tại mục 2 Phần III phần về kinh tế, Nghị quyết 19-NQ/TW định hướng phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp theo các tầng liên kết, bổ trợ lẫn nhau, đi kèm các chính sách hỗ trợ riêng biệt, có trọng tâm và mục tiêu cụ thể.
Nghị quyết yêu cầu tập trung phát triển lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp đầu chuỗi và hệ sinh thái công nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh đó, Nhà nước thực hiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và có cơ chế đột phá nhằm thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hợp tác xã, viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết tiếp tục xác định phát triển kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và định hướng chiến lược, đồng thời xác định kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Cùng với đó là củng cố kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, phát triển kinh tế hộ gia đình và thu hút có chọn lọc đầu tư nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ và liên kết với khu vực kinh tế trong nước.
7. Chuyển hệ thống y tế từ chữa bệnh sang phòng bệnh, từng bước miễn viện phí theo lộ trình
Theo mục 3 phần III, mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc và nâng cao sức khỏe thông qua hệ thống y tế.
Đồng thời, Nghị quyết đặt mục tiêu thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân và từng bước miễn viện phí theo lộ trình. Bên cạnh đó, Nghị quyết yêu cầu bảo đảm tự chủ về vắc-xin, thuốc và nguồn cung thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh cũng như khám, chữa bệnh.
Đối với hệ thống an sinh xã hội, Nghị quyết xác định xây dựng hệ thống hiện đại, đa tầng, bền vững, bao trùm, linh hoạt và thích ứng cao; coi đầu tư cho an sinh là đầu tư cho phát triển; đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với lao động phi chính thức, lao động nền tảng và thích ứng với quá trình già hóa dân số.
8. Đổi mới giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài
Theo Phần III mục về văn hóa, con người, Nghị quyết 19-NQ/TW yêu cầu xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, công bằng và thích ứng, lấy người học làm trung tâm.
Giáo dục và đào tạo được đổi mới theo hướng thực học, thực nghiệp, phát triển năng lực sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng số và tinh thần khởi nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Nghị quyết đồng thời xác định phát triển giáo dục đại học trở thành hạt nhân của năng lực tri thức quốc gia; phát triển các trường đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế và các trung tâm xuất sắc về khoa học, công nghệ.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, Nghị quyết yêu cầu mở rộng mô hình đào tạo kép, đào tạo tại doanh nghiệp, đào tạo lại và đào tạo nâng cao kỹ năng.
Cùng với đó là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài với cơ chế, chính sách đặc thù, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, khoa học dữ liệu và các công nghệ chiến lược; đồng thời thu hút trí thức, chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và nhân tài quốc tế.
9. Phát triển thị trường tín chỉ các-bon và thúc đẩy tài chính xanh
Về môi trường sinh thái, Nghị quyết 19-NQ/TW yêu cầu hoàn thiện thể chế bảo vệ môi trường theo hướng kiến tạo và dẫn dắt chuyển đổi xanh, đồng thời thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 theo lộ trình phù hợp.
Theo mục 5 phần III, Nghị quyết đặt nhiệm vụ phát triển và vận hành đầy đủ thị trường tín chỉ các-bon; áp dụng cơ chế định giá tín chỉ các-bon, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và mua sắm công xanh. Bên cạnh đó, Nghị quyết yêu cầu mở rộng tín dụng xanh, trái phiếu xanh, phát triển thị trường vốn xanh; hoàn thiện hệ thống thuế, phí môi trường và thuế các-bon theo thông lệ quốc tế.
Đối với các đô thị lớn, Nghị quyết cho phép phân cấp mạnh trong việc thu phí môi trường, phát hành trái phiếu xanh và tổ chức vùng phát thải thấp. Song song với đó là xây dựng nền tảng quản trị tài nguyên và môi trường dựa trên dữ liệu, mở rộng quan trắc tự động, giám sát theo thời gian thực và tích hợp yêu cầu bảo vệ môi trường vào quy hoạch, phân bổ ngân sách và quyết định đầu tư.
10. Lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế
Theo Phần III mục về đối ngoại và hội nhập quốc tế, Nghị quyết 19-NQ/TW yêu cầu xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại và chuyên nghiệp trên cơ sở kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa và đa dạng hóa.
Trong đó, ngoại giao kinh tế được xác định là trọng tâm của hoạt động đối ngoại. Nghị quyết yêu cầu triển khai đồng bộ ngoại giao về công nghệ, chuyển đổi số, văn hóa, môi trường và khí hậu; gắn hoạt động đối ngoại cấp cao với thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ; phát huy vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài trong thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ và thu hút nhân tài.
Đồng thời, Nghị quyết đặt ra yêu cầu nâng tầm đối ngoại đa phương, tham gia định hình các chuẩn mực quốc tế mới về kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, tài chính xanh, an ninh mạng và chuỗi cung ứng; đa dạng hóa đối tác, thị trường, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghệ; áp dụng cơ chế đặc thù để thu hút các tập đoàn đa quốc gia, tổ chức nghiên cứu và nhân tài quốc tế tham gia các chương trình khoa học, công nghệ tại Việt Nam.
Trên đây là 10 nội dung đáng chú ý của Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
RSS