- 1. Không được giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá bằng ngoại hối, trừ trường hợp được phép
- 2. Bổ sung dịch vụ tài sản mã hóa vào lĩnh vực thuộc diện phòng, chống rửa tiền
- 3. Không yêu cầu khách hàng cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu
- 4. Ngân hàng thương mại được làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp
1. Không được giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá bằng ngoại hối, trừ trường hợp được phép
Theo Điều 31a Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, số 46/2010/QH12 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi 2026, số 23/2026/QH16
Theo khoản 3 Điều 1 Luật số 23/2026/QH16, Điều 31a được bổ sung vào Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy định:
Điều 31a. Nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ trường hợp được phép theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Như vậy, doanh nghiệp cần lưu ý nguyên tắc sử dụng ngoại hối không chỉ áp dụng đối với thanh toán mà còn bao gồm cả việc niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự.

2. Bổ sung dịch vụ tài sản mã hóa vào lĩnh vực thuộc diện phòng, chống rửa tiền
Một thay đổi rất đáng chú ý đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài sản mã hóa là khoản 2 Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi 2026, số 23/2026/QH16 bổ sung “dịch vụ tài sản mã hóa” vào khoản 1 Điều 4 Luật Phòng, chống rửa tiền 2022, số 14/2022/QH15.
Theo đó, các chủ thể thuộc lĩnh vực này sẽ phải lưu ý các nghĩa vụ phòng, chống rửa tiền theo Luật Phòng, chống rửa tiền.
Đồng thời, Luật mới còn bổ sung riêng Điều 33a về dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa, gồm nhiều trường hợp như:
-
Chia nhỏ giao dịch tài sản mã hóa để thấp hơn mức nhận biết khách hàng hoặc mức báo cáo;
-
Thực hiện nhiều giao dịch giá trị lớn trong thời gian ngắn không có mục đích kinh doanh rõ ràng;
-
Nạp, giao dịch và rút tài sản mã hóa liên tiếp trong thời gian rất ngắn;
-
Sử dụng tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dịch vụ trộn giao dịch;
-
Khách hàng từ chối hoặc trì hoãn cung cấp thông tin về nguồn gốc tài sản;
-
Giao dịch qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa không xác định được tư cách pháp lý hợp lệ…
3. Không yêu cầu khách hàng cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu
Theo khoản 5 Điều 10 Luật Phòng, chống rửa tiền 2022 được bổ sung bởi điểm c khoản 4 Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi 2026, số 23/2026/QH16:
Điều 10. Thông tin nhận biết khách hàng
...5. Trường hợp đối tượng báo cáo có thể kết nối, khai thác được thông tin quy định tại Điều này trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật thì không yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu.
Như vậy, từ khi quy định mới có hiệu lực, trường hợp đối tượng báo cáo đã có thể kết nối, khai thác thông tin nhận biết khách hàng từ cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật thì không yêu cầu khách hàng cung cấp lại những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu.
Bên cạnh đó, Luật còn sửa đổi, bổ sung một số thông tin nhận biết khách hàng là tổ chức, trong đó bổ sung hình thức pháp lý; địa điểm kinh doanh nếu khác với địa chỉ trụ sở chính; số định danh của tổ chức (nếu có); thông tin về người đại diện theo ủy quyền (nếu có).
4. Ngân hàng thương mại được làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp
Theo điểm e khoản 2 Điều 114 Luật Các tổ chức tín dụng 2024, số 32/2024/QH15 được bổ sung bởi Điều 3 Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi 2026, số 23/2026/QH16, ngân hàng thương mại được thực hiện thêm hoạt động kinh doanh sau:
Điều 114. Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại
...2. Ngân hàng thương mại được thực hiện các hoạt động kinh doanh khác sau đây theo quy định của pháp luật có liên quan:
...e. Đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp.
Trước đây, khoản 2 Điều 114 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 chỉ quy định ngân hàng thương mại được làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm cho bên cho vay là tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Như vậy, Luật mới đã bổ sung hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp vào các hoạt động kinh doanh khác mà ngân hàng thương mại được thực hiện.
RSS