- 1. Chuyển từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại
- 2. Các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước
- 3. Hình thành 5 - 6 trung tâm kinh tế biển mạnh và 3 khu kinh tế đặc biệt
- 4. Hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê và khai thác không gian biển
- 5. Phát triển các ngành kinh tế biển xanh, thông minh
- 6. Hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển
- 7. Thu gom, xử lý 100% chất thải nhựa ven biển
- 8. 100% cư dân vùng biển, hải đảo được tiếp cận dịch vụ thiết yếu
- 9. Đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển
1. Chuyển từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại
Theo khoản 2 Mục II Nghị quyết 20-NQ/TW, Việt Nam xác định:
-
Chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại;
-
Chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh;
-
Chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia.
Đồng thời, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh được xác định là đột phá chiến lược; từng bước hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế và hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền, biển và hải đảo.

2. Các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước
Theo điểm b khoản 1 Mục III Nghị quyết 20-NQ/TW, đến năm 2030, Việt Nam đặt ra các mục tiêu kinh tế đáng chú ý sau:
-
Tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước;
-
Thu nhập bình quân đầu người tại các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn từ 1,2 - 1,3 lần bình quân cả nước;
-
Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của các địa phương ven biển đạt trên 11%/năm;
-
Phát triển các dự án điện gió ngoài khơi có công suất từ 6 - 10 GW;
-
Đội tàu biển Việt Nam đảm nhận 20% thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu;
-
Chi phí logistics giảm xuống dưới 12% GDP;
-
Tổng thu du lịch biển, đảo tăng bình quân 14%/năm;
-
Giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân 8%/năm;
-
Tỷ trọng nuôi biển trong tổng giá trị sản xuất thủy sản đạt 15%.
3. Hình thành 5 - 6 trung tâm kinh tế biển mạnh và 3 khu kinh tế đặc biệt
Theo điểm b khoản 1 Mục III Nghị quyết 20-NQ/TW, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu:
-
Hình thành 5 - 6 trung tâm kinh tế biển mạnh;
-
Hình thành 3 khu kinh tế đặc biệt;
-
Hoàn thành 100% tuyến đường bộ ven biển theo quy hoạch;
-
100% đảo có vị trí chiến lược, trọng yếu cơ bản được đầu tư đồng bộ hạ tầng thiết yếu.
Bên cạnh đó, khoản 6 Mục IV Nghị quyết 20-NQ/TW yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội để phát triển khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu kinh tế tự do và các cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị biển trở thành động lực tăng trưởng quan trọng.
4. Hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê và khai thác không gian biển
Theo khoản 2 Mục IV Nghị quyết 20-NQ/TW, đổi mới quản trị không gian biển quốc gia là nội dung cốt lõi, mang tính đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh.
Nghị quyết yêu cầu:
-
Hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký và cấp giấy chứng nhận sử dụng, khai thác không gian biển;
-
Quy định rõ quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động trên không gian biển;
-
Quy định về quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn và cho thuê lại;
-
Gắn việc khai thác không gian biển với bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển.
Quy hoạch không gian biển quốc gia phải là căn cứ để phân bổ nguồn lực, giao, cho thuê không gian biển và xử lý tình trạng chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển.
5. Phát triển các ngành kinh tế biển xanh, thông minh
Theo khoản 5 Mục IV Nghị quyết 20-NQ/TW, Việt Nam định hướng đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và phát thải thấp.
Một số định hướng nổi bật gồm:
-
Phát triển kinh tế hàng hải thành trụ cột quan trọng của kinh tế biển;
-
Xây dựng hệ thống cảng biển xanh, thông minh, hiện đại;
-
Phát triển đội tàu vận tải biển hiện đại, tăng thị phần vận chuyển quốc tế;
-
Giảm khai thác thủy sản ven bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ và nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao;
-
Phát triển du lịch và dịch vụ biển thành ngành kinh tế mũi nhọn;
-
Hoàn thiện cơ chế phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển;
-
Phát triển các lĩnh vực biển mới như y - dược biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hiđrôgien và amôniắc xanh.
6. Hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển
Theo điểm b khoản 1 Mục III Nghị quyết 20-NQ/TW, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu:
-
Hình thành 2 - 3 tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển dẫn đầu khu vực ASEAN;
-
Có 1 - 2 tàu nghiên cứu biển sâu lưỡng dụng;
-
Hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển;
-
Đạt tỷ lệ 100% số hóa, tích hợp và chia sẻ dữ liệu về tài nguyên, môi trường, hạ tầng và hoạt động biển trong hệ thống quản lý nhà nước.
Theo khoản 4 Mục IV Nghị quyết 20-NQ/TW, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và Internet vạn vật sẽ được ứng dụng trong quản trị biển, quan trắc biển, giám sát biển thông minh, quản lý không gian biển và dự báo thiên tai.
7. Thu gom, xử lý 100% chất thải nhựa ven biển
Theo điểm b khoản 1 Mục III Nghị quyết 20-NQ/TW, các mục tiêu về môi trường đến năm 2030 gồm:
-
Hoàn thành 100% việc phân vùng chức năng biển cho từng ngành, lĩnh vực và địa phương;
-
Diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia;
-
100% chất thải nhựa ven biển được thu gom, xử lý;
-
100% đảo trọng yếu, đảo dân sinh có hệ thống xử lý chất thải rắn và nước thải.
Theo khoản 7 Mục IV Nghị quyết 20-NQ/TW, Việt Nam tiếp tục mở rộng các khu bảo tồn biển; bảo vệ, phục hồi rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi triều và đầm phá; đồng thời tập trung khắc phục tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
8. 100% cư dân vùng biển, hải đảo được tiếp cận dịch vụ thiết yếu
Theo điểm b khoản 1 Mục III Nghị quyết 20-NQ/TW, đến năm 2030:
-
100% di sản văn hóa biển được số hóa;
-
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ và kỹ năng trong các ngành, nghề biển đạt trên 45%;
-
100% cư dân vùng biển, hải đảo được tiếp cận điện, nước sạch, Internet băng rộng và dịch vụ y tế, giáo dục.
Theo khoản 8 Mục IV Nghị quyết 20-NQ/TW, Nhà nước định hướng xây dựng chính sách thu hút người dân ra sinh sống, ổn định dân cư trên các đảo có đủ điều kiện; hỗ trợ ngư dân, cư dân biển phát triển sinh kế bền vững và tăng cường chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm, tín dụng tại các vùng biển, hải đảo.
9. Đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển
Theo khoản 2 Mục III Nghị quyết 20-NQ/TW, tầm nhìn đến năm 2045 là:
Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và phát triển bền vững từ biển; có nền quản trị biển hiện đại, khoa học và công nghệ biển tiên tiến.
Đồng thời, đời sống vật chất, tinh thần của người dân vùng biển, đảo được nâng cao; chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển được giữ vững; vị thế của Việt Nam trong hợp tác quốc tế và quản trị đại dương toàn cầu được nâng cao.
Trên đây là thông tin về việc 9 nội dung đáng chú ý của Nghị quyết 20-NQ/TW 2026 về phát triển kinh tế biển…
RSS