1. Doanh nghiệp phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ bao lâu một lần?
Theo khoản 1 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, số 84/2015/QH13, hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất 1 lần cho người lao động.
Riêng các nhóm người lao động sau đây phải được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần:
-
Người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
-
Người lao động là người khuyết tật;
-
Người lao động chưa thành niên;
-
Người lao động cao tuổi.
Khi tổ chức khám sức khỏe, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản; người làm việc trong môi trường tiếp xúc với yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp theo khoản 2 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, số 84/2015/QH13. Chi phí khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động do người sử dụng lao động chi trả theo khoản 6 Điều 21 Luật này.

2. Từ 10/9/2026, doanh nghiệp không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động bị phạt bao nhiêu?
Theo khoản 2 Điều 33 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng đối với mỗi người lao động bị vi phạm, nhưng tổng mức phạt tối đa không quá 75 triệu đồng.
Tuy nhiên, mức phạt nêu trên là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Cụ thể, khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định mức phạt đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân; đồng thời điểm b khoản 2 Điều 7 xác định doanh nghiệp là tổ chức bị áp dụng mức phạt gấp 2 lần.
Do đó, doanh nghiệp không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động bị phạt từ 2 triệu đồng đến 6 triệu đồng đối với mỗi người lao động bị vi phạm, nhưng tổng mức phạt tối đa không quá 150 triệu đồng.
Ngoài việc bị phạt tiền, theo điểm a khoản 11 Điều 33 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là:
-
Buộc tổ chức khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động theo quy định;
-
Trường hợp người lao động đã tự đi khám, doanh nghiệp phải thanh toán chi phí khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Như vậy, từ ngày 10/09/2026, doanh nghiệp không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động không chỉ có thể bị phạt tối đa 150 triệu đồng mà còn phải tổ chức khám hoặc hoàn trả chi phí khám cho người lao động.
3. Tiền lương, thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được xác định thế nào?
Theo Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15, căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được xác định tùy theo hình thức tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc bảo hiểm xã hội tự nguyện.
*Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được xác định như sau:
-
Đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, căn cứ đóng là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương nếu có.
-
Đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, căn cứ đóng là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc nhưng vẫn được trả tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng bảo hiểm xã hội theo tiền lương thực tế được hưởng trong thời gian ngừng việc.
Đối với người lao động thuộc các trường hợp quy định tại điểm đ, điểm e và điểm k khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Người lao động thuộc các trường hợp quy định tại điểm g, điểm h, điểm m và điểm n khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được lựa chọn tiền lương làm căn cứ đóng, nhưng:
-
Thấp nhất bằng mức tham chiếu;
-
Cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Sau ít nhất 12 tháng đóng bảo hiểm xã hội theo mức tiền lương đã lựa chọn, người lao động được lựa chọn lại mức tiền lương làm căn cứ đóng.
Nhìn chung, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
*Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện
Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, thu nhập làm căn cứ đóng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
RSS