- 1. Không đăng ký thông tin lao động có thể bị phạt đến 40 triệu đồng
- 2. Không đăng ký đầy đủ người tham gia BHXH có thể bị phạt đến 150 triệu đồng
- 3. Chậm đóng BHXH phải nộp thêm 0,03% mỗi ngày
- 4. Trốn đóng BHXH có thể bị phạt đến 20% số tiền trốn đóng
- 5. Chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định thành các nhóm riêng
- 6. Doanh nghiệp làm giả hồ sơ cấp giấy phép lao động có thể bị phạt đến 120 triệu đồng
- 7. Doanh nghiệp vi phạm quy định về đình công có thể bị phạt đến 20 triệu đồng
- 8. Tổ chức huấn luyện an toàn lao động có thể bị phạt đến 140 triệu đồng
Dưới đây là 08 quy định doanh nghiệp cần lưu ý:
1. Không đăng ký thông tin lao động có thể bị phạt đến 40 triệu đồng
Điều 12 Nghị định 283 2026 NĐ CP bổ sung chế tài đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động. Nghị định 12 2022 NĐ CP trước đây chưa có điều khoản tương ứng.
Theo khoản 2 Điều 12 Nghị định 283, người sử dụng lao động không thực hiện đăng ký hoặc điều chỉnh thông tin đăng ký lao động cho người lao động khi nộp hồ sơ đăng ký, điều chỉnh thông tin tham gia bảo hiểm xã hội bị phạt như sau:
|
Số người lao động bị vi phạm |
Mức phạt đối với cá nhân |
Mức phạt đối với tổ chức |
|---|---|---|
|
Từ 01–50 người |
05-10 triệu đồng |
10-20 triệu đồng |
|
Từ 51–100 người |
10-15 triệu đồng |
20-30 triệu đồng |
|
Từ 101 người trở lên |
15-20 triệu đồng |
30-40 triệu đồng |
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 283, các mức phạt trên là mức áp dụng đối với cá nhân. Nếu người sử dụng lao động là tổ chức, mức phạt bằng hai lần mức phạt đối với cá nhân.
Ngoài tiền phạt, người sử dụng lao động còn bị buộc thực hiện việc đăng ký hoặc điều chỉnh thông tin đăng ký lao động theo khoản 3 Điều 12 Nghị định 283.

2. Không đăng ký đầy đủ người tham gia BHXH có thể bị phạt đến 150 triệu đồng
Khoản 2 Điều 43 Nghị định 283/2026 của Chính phủ quy định mức phạt đối với người sử dụng lao động có hành vi:
- Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn đăng ký;
- Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ sau thời hạn 60 ngày nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Mức phạt được xác định theo số người lao động chưa được đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ:
|
Số người lao động bị vi phạm |
Mức phạt đối với cá nhân |
Mức phạt đối với tổ chức |
|---|---|---|
|
Dưới 10 người |
05-10 triệu đồng |
10-20 triệu đồng |
|
Từ 10 đến dưới 50 người |
10-15 triệu đồng |
20-30 triệu đồng |
|
Từ 50 đến dưới 100 người |
15-20 triệu đồng |
30-40 triệu đồng |
|
Từ 100 đến dưới 300 người |
20-30 triệu đồng |
40-60 triệu đồng |
|
Từ 300 đến dưới 500 người |
30-40 triệu đồng |
60-80 triệu đồng |
|
Từ 500 đến dưới 700 người |
40-50 triệu đồng |
80-100 triệu đồng |
|
Từ 700 đến dưới 1.000 người |
50-60 triệu đồng |
100-120 triệu đồng |
|
Từ 1.000 người trở lên |
60-75 triệu đồng |
120-150 triệu đồng |
Trước đây, khoản 5 Điều 39 Nghị định 12/2022 đã quy định mức phạt từ 12%-15% tổng số tiền phải đóng nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với hành vi đóng bảo hiểm xã hội không đủ số người mà không phải là trốn đóng. Mức tối đa đối với tổ chức theo quy định cũ cũng là 150 triệu đồng.
Nghị định 283 là quy định các khung tiền phạt cụ thể căn cứ vào số người lao động bị vi phạm.
Theo khoản 4 Điều 43 Nghị định 283, người sử dụng lao động còn bị buộc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ người tham gia, đóng đủ số tiền chậm đóng và nộp thêm số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng.
3. Chậm đóng BHXH phải nộp thêm 0,03% mỗi ngày
Khoản 3 Điều 43 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định phạt từ 12%-15% tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thời điểm lập biên bản, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với cá nhân.
Đối với người sử dụng lao động là tổ chức, mức phạt bằng hai lần, tương ứng tối đa không quá 150 triệu đồng.
Mức phạt này áp dụng đối với một trong các hành vi:
- Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã đăng ký kể từ sau ngày đóng chậm nhất;
- Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ ngày đóng chậm nhất và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng.
Trước đó, khoản 5 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP đã có mức phạt tương ứng đối với nhóm hành vi chậm đóng, đóng không đúng mức hoặc đóng không đủ số người. Tuy nhiên, Nghị định 283 tách hành vi chậm đóng BHXH thành một điều riêng và quy định biện pháp khắc phục theo khoản 4 Điều 43 gồm:
- Đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng;
- Nộp thêm số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Quy định cũ tại điểm b khoản 10 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định người sử dụng lao động phải nộp khoản tiền lãi bằng hai lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề.
4. Trốn đóng BHXH có thể bị phạt đến 20% số tiền trốn đóng
Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định riêng hai nhóm hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Đối với hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc sau thời hạn 60 ngày, khoản 1 Điều 44 quy định mức phạt theo số người lao động bị vi phạm. Mức phạt đối với cá nhân từ 06-75 triệu đồng; đối với tổ chức từ 12-150 triệu đồng.
Đối với hành vi trốn đóng liên quan đến số tiền phải đóng, khoản 2 Điều 44 quy định phạt từ 18%-20% tổng số tiền trốn đóng nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với cá nhân, tương ứng tối đa 150 triệu đồng đối với tổ chức. Nhóm này gồm:
- Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp hơn quy định;
- Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ ngày đóng chậm nhất, đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo khoản 3 Điều 44, người sử dụng lao động còn phải đăng ký đầy đủ người lao động thuộc diện tham gia, đóng đủ số tiền trốn đóng và nộp thêm 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày trốn đóng.
Nghị định 12/2022/NĐ-CP trước đây đã quy định mức phạt từ 18%-20% đối với trường hợp không đóng BHXH cho toàn bộ người lao động và phạt từ 50-75 triệu đồng đối với hành vi trốn đóng. Nghị định 283 đã phân loại hành vi trốn đóng theo số người hoặc theo số tiền vi phạm.

5. Chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định thành các nhóm riêng
Nghị định 283/2026/NĐ-CP dành riêng Điều 45 để xử phạt hành vi chậm đóng và Điều 46 để xử phạt hành vi trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp. Trước đây, Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định chung hành vi vi phạm về đóng BHXH bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp.
Theo khoản 2 Điều 45 Nghị định 283, hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp mà thuộc nhóm chậm đóng bị phạt theo số người vi phạm. Mức phạt đối với cá nhân từ 500.000 đồng đến 35 triệu đồng; đối với tổ chức từ 01-70 triệu đồng.
Theo khoản 3 Điều 45, hành vi chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp liên quan đến số tiền phải đóng bị phạt từ 12%-15% tổng số tiền chậm đóng, tối đa 75 triệu đồng đối với cá nhân và 150 triệu đồng đối với tổ chức.
Đối với hành vi trốn đóng, khoản 1 Điều 46 quy định mức phạt theo số người chưa được đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ. Mức phạt đối với cá nhân từ 01-40 triệu đồng; đối với tổ chức từ 02-80 triệu đồng.
Khoản 2 Điều 46 quy định phạt từ 18%-20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng tối đa 75 triệu đồng đối với cá nhân và 150 triệu đồng đối với tổ chức.
Người sử dụng lao động vi phạm còn bị buộc đóng đủ số tiền chậm đóng hoặc trốn đóng và nộp thêm 0,03%/ngày tính trên số tiền, số ngày chậm đóng hoặc trốn đóng.
Trường hợp số tiền chậm đóng thuộc khoản 3 Điều 45 tại thời điểm lập biên bản dưới 400.000 đồng thì áp dụng hình thức phạt cảnh cáo theo khoản 1 Điều này.
6. Doanh nghiệp làm giả hồ sơ cấp giấy phép lao động có thể bị phạt đến 120 triệu đồng
Khoản 4 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP bổ sung chế tài đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi:
- Sửa chữa, làm sai lệch văn bản, tài liệu trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại hoặc gia hạn giấy phép lao động, giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Sử dụng giấy tờ, tài liệu giả mạo trong các hồ sơ trên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mức phạt được quy định tại khoản 4 Điều 13 là từ 40-60 triệu đồng đối với cá nhân. Nếu người sử dụng lao động là tổ chức, mức phạt bằng hai lần, tương ứng từ 80-120 triệu đồng.
Nghị định 12/2022/NĐ-CP trước đây chủ yếu xử phạt hành vi sử dụng người lao động nước ngoài không có giấy phép, sử dụng giấy phép hết hiệu lực hoặc làm việc không đúng nội dung ghi trên giấy phép. Chưa có chế tài tương ứng đối với việc sửa chữa, làm sai lệch hoặc sử dụng giấy tờ giả ngay trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại hoặc gia hạn giấy phép.
Ngoài tiền phạt, khoản 6 Điều 13 Nghị định 283 quy định tịch thu giấy tờ, văn bản bị sửa chữa, làm sai lệch hoặc giấy tờ, tài liệu giả mạo. Người sử dụng lao động còn bị buộc nộp lại giấy phép lao động hoặc giấy xác nhận đã được cấp trên cơ sở hồ sơ vi phạm theo khoản 7 Điều 13.
7. Doanh nghiệp vi phạm quy định về đình công có thể bị phạt đến 20 triệu đồng
Theo khoản 3 Điều 30 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động bị phạt từ 05-10 triệu đồng đối với một trong các hành vi:
- Chấm dứt hợp đồng lao động, xử lý kỷ luật hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang công việc hoặc nơi làm việc khác vì lý do chuẩn bị hoặc tham gia đình công;
- Trù dập hoặc trả thù người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công;
- Đóng cửa tạm thời nơi làm việc trong trường hợp bị cấm;
- Gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở lấy ý kiến về đình công.
Đây là mức phạt đối với cá nhân. Trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức, mức phạt từ 10–20 triệu đồng.
Ngoài tiền phạt, khoản 4 Điều 30 quy định người sử dụng lao động có thể bị buộc nhận người lao động trở lại làm việc, hủy quyết định xử lý kỷ luật hoặc điều động trái quy định, trả đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị chấm dứt hợp đồng. Nếu đóng cửa tạm thời nơi làm việc trái quy định, người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động trong những ngày đóng cửa.
Trước đó, khoản 3 và khoản 4 Điều 34 Nghị định 12/2022/NĐ-CP đã quy định các hành vi, mức phạt và biện pháp khắc phục tương ứng. Nghị định 283 kế thừa và quy định nội dung này tại Điều 30.
8. Tổ chức huấn luyện an toàn lao động có thể bị phạt đến 140 triệu đồng
Theo điểm d khoản 2 Điều 36 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động bị phạt từ 120-140 triệu đồng khi thực hiện một trong các hành vi:
- Hoạt động huấn luyện trong thời gian bị đình chỉ;
- Huấn luyện ngoài phạm vi đã thông báo công khai;
- Hoạt động khi chưa thông báo bắt đầu cung cấp dịch vụ huấn luyện đến Sở Nội vụ trong trường hợp phải thông báo;
- Không bảo đảm điều kiện về nhân sự trong quá trình cung cấp dịch vụ;
- Không bảo đảm quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài liệu huấn luyện;
- Giả mạo văn bản, tài liệu về điều kiện, yêu cầu phải bảo đảm trong quá trình cung cấp dịch vụ nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điểm c khoản 2 Điều 36 còn quy định phạt từ 30-50 triệu đồng đối với tổ chức cung cấp kết quả huấn luyện mà không thực hiện huấn luyện hoặc cung cấp kết quả không đúng nội dung đã huấn luyện.
Tùy hành vi, tổ chức vi phạm còn có thể bị đình chỉ hoạt động huấn luyện từ 01-03 tháng, bị tịch thu tài liệu giả mạo và buộc hủy kết quả huấn luyện đã cung cấp không đúng quy định.
Trước đây, điểm d khoản 2 Điều 26 Nghị định 12/2022/NĐ-CP trước đây cũng đã quy định mức phạt từ 120-140 triệu đồng. Nghị định 283 điều chỉnh, đồng thời cụ thể hóa các hành vi vi phạm phù hợp.
Trên đây là thông tin về quy định xử phạt về lao động, BHXH từ 10/9/2026.
RSS