- 1. Tăng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- 2. Các vi phạm có thể bị chuyển hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự
- 3. Xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử
- 4. Làm rõ nguyên tắc áp dụng mức phạt vi phạm hành chính
- 4.1. Hộ kinh doanh vi phạm bị xử phạt như đối với cá nhân
- 4.2. Làm rõ nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính nhiều lần
- 5. Doanh nghiệp không đăng ký lao động bị phạt tới 20 triệu đồng
- 6. Điều chỉnh mức phạt chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
- 7. Điều chỉnh mức phạt trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
1. Tăng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Trước đây, Điều 5 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định chung về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là 01 năm.
Tuy nhiên, quy định mới tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 283 năm 2026 đã có thay đổi về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định như sau:
- 01 năm đối với vi phạm hành chính về lao động, bảo hiểm xã hội;
- 02 năm đối với vi phạm hành chính về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Các vi phạm có thể bị chuyển hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự
Điều 4 Nghị định 283 quy định trong quá trình xem xét, xử lý vụ vi phạm, nếu xét thấy hành vi vi phạm sau đây có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự:
- Hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả mạo;
- Hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng, mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến;
- Hành vi xâm phạm danh dự, uy tín hoặc nhân phẩm của người lao động khi xử lý kỷ luật lao động;
- Hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép hoặc bóc lột hoặc cưỡng bức lao động;
- Hành vi tái phạm quy định về sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc bị cấm hoặc làm việc tại nơi bị cấm;
...
Trước đó Nghị định 12/2022/NĐ-CP chưa có quy định này.
3. Xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử
Căn cứ Điều 6 Nghị định 283/2026, việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên môi trường điện tử khi bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.
Việc gửi các biên bản, quyết định và các tài liệu khác trong xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện thông qua một trong các phương thức sau:
- Gửi đến địa chỉ thư điện tử của người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, bị xử phạt đã thông báo với người có thẩm quyền;
- Gửi qua ứng dụng định danh quốc gia/tài khoản định danh điện tử (có xác thực mức độ 2 trở lên) hoặc gửi qua ứng dụng được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của ngành, lĩnh vực, địa phương;
- Gửi tin nhắn SMS đến số điện thoại của người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, bị xử phạt đã thông báo với người có thẩm quyền;
- Gửi đến địa chỉ thư điện tử của cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành.
4. Làm rõ nguyên tắc áp dụng mức phạt vi phạm hành chính
4.1. Hộ kinh doanh vi phạm bị xử phạt như đối với cá nhân
Đây là quy định mới tại khoản khoản 3 Điều 7 Nghị định 283, cụ thể:
Hộ kinh doanh, hộ gia đình có hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này bị xử phạt như đối với cá nhân.
4.2. Làm rõ nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính nhiều lần
Trước đây, khoản 4 Điều 6 Nghị định 12/2022 chỉ quy định chung về trường hợp cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính nhiều lần thì được coi là tình tiết tăng nặng để làm căn cứ xem xét xử phạt vi phạm hành chính.
Theo quy định mới tại khoản 4 Điều 7 Nghị định 283/2026, nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính nhiều lần đã được quy định cụ thể hơn:
Tổ chức, cá nhân thực hiện vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp thực hiện từng hành vi vi phạm về kinh phí công đoàn; chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp ở các thời điểm khác nhau mà những hành vi vi phạm này chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý thì chỉ bị xử phạt về một hành vi vi phạm, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần.
5. Doanh nghiệp không đăng ký lao động bị phạt tới 20 triệu đồng
Từ ngày 01/7/2026, người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện đăng ký lao động đồng thời với việc đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội theo Quyết định 645/QĐ-BNV và Nghị định 318/2025/NĐ-CP.
Tại Điều 12 Nghị định 283 năm 2026 đã có quy định mức phạt đối với các vi phạm quy định về đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động như sau:
- Phạt tiền từ 01 - 02 triệu đồng đối với người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có hành vi không cung cấp thông tin; cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc cung cấp thông tin không chính xác theo quy định để làm căn cứ đăng ký lao động.
- Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không thực hiện đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động cho người lao động khi nộp hồ sơ đăng ký, điều chỉnh thông tin tham gia bảo hiểm xã hội theo một trong các mức sau đây:
- Từ 05 - 10 triệu đồng đối với vi phạm từ 01 - 50 người lao động;
- Từ 10 - 15 triệu đồng đối với vi phạm từ 51 - 100 người lao động;
- Từ 15 - 20 triệu đồng đối với vi phạm từ 101 người lao động trở lên.
6. Điều chỉnh mức phạt chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
So với mức phạt chậm đóng bảo hiểm xã hội trước đây, Nghị định 283 có một số quy định mới về xử phạt chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tại Điều 43, 45 như sau:
- Chỉ phạt cảnh cáo khi số tiền vi phạm dưới 400.000 đồng tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.
- Bổ sung mức phạt đối với hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng:
|
Số lượng người lao động bị vi phạm |
Không đăng ký BHXH |
Không đăng ký BHTN |
|---|---|---|
|
Dưới 10 người lao động |
Từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng |
Từ 500.000 đồng đến 2,5 triệu đồng |
|
Từ 10 đến dưới 50 người lao động |
Từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng |
Từ 2,5 triệu đồng đến 5 triệu đồng |
|
Từ 50 đến dưới 100 người lao động |
Từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng |
Từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng |
|
Từ 100 đến dưới 300 người lao động |
Từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng |
Từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng |
|
Từ 300 đến dưới 500 người lao động |
Từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng |
Từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng |
|
Từ 500 đến dưới 700 người lao động |
Từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng |
Từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng |
|
Từ 700 đến dưới 1.000 người lao động |
Từ 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng |
Từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng |
|
Từ 1.000 người lao động trở lên |
Từ 60 triệu đồng đến 75 triệu đồng |
Từ 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng |
7. Điều chỉnh mức phạt trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
Trước đây, khoản 7 Điều 39 Nghị định 12/2022 quy định chung mức phạt tiền từ 50 - 70 triệu đồng đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, quy định mới về xử lý vi phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại Điều 44, 46 Nghị định 283 đã có mức phạt cụ thể hơn đối với từng dấu hiệu:
- Bổ sung mức phạt đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định theo một trong các mức sau đây:
|
Số lượng người lao động bị vi phạm |
Không đăng ký BHXH |
Không đăng ký BHTN |
|---|---|---|
|
Dưới 10 người lao động |
Từ 06 triệu đồng đến 12 triệu đồng |
Từ 01 triệu đồng đến 05 triệu đồng |
|
Từ 10 đến dưới 50 người lao động |
Từ 12 triệu đồng đến 20 triệu đồng |
Từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng |
|
Từ 50 đến dưới 100 người lao động |
Từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng |
Từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng |
|
Từ 100 đến dưới 300 người lao động |
Từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng |
Từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng |
|
Từ 300 đến dưới 500 người lao động |
Từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng |
Từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng |
|
Từ 500 đến dưới 700 người lao động |
Từ 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng |
Từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng |
|
Từ 700 đến dưới 1.000 người lao động |
Từ 60 triệu đồng đến 70 triệu đồng |
Từ 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng |
|
Từ 1.000 người lao động trở lên |
Từ 70 triệu đồng đến 75 triệu đồng |
Từ 35 triệu đồng đến 40 triệu đồng |
- Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây:
+ Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định;
+ Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp sau đây:
+ Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp;
+ Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm thất nghiệp sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
RSS