Theo quy định pháp luật hiện hành, hành vi sử dụng hóa đơn cho giao dịch không có thật để đưa vào chi phí có được coi là hành vi trốn thuế không? Việc Công ty C đã thanh toán qua ngân hàng có làm thay đổi bản chất của hành vi hay không? Công ty có thể phải chịu những trách nhiệm pháp lý nào?
1. Kết luận về bản chất hành vi
Có. Với dữ kiện Công ty C và Công ty D đã thỏa thuận lập hóa đơn cho dịch vụ không phát sinh trên thực tế, mục đích là đưa khoản 500 triệu đồng vào chi phí để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, hành vi này có dấu hiệu của hành vi trốn thuế.
Căn cứ vào điểm d, điểm đ khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, hành vi trốn thuế bao gồm:
- Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để hạch toán hàng hóa, dịch vụ mua vào, làm giảm số thuế phải nộp;
- Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số thuế phải nộp.
Trường hợp này, hóa đơn dịch vụ 500 triệu đồng không phản ánh giao dịch thực tế. Việc Công ty C hạch toán hóa đơn này vào chi phí nhằm giảm thu nhập chịu thuế TNDN phù hợp với dấu hiệu nêu trên.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 13 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 cũng nghiêm cấm việc “tạo lập giao dịch mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không có thật hoặc giao dịch không đúng quy định của pháp luật”.

2. Khoản 500 triệu đồng có được tính vào chi phí được trừ không?
Không được.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15, khoản chi chỉ được trừ khi đáp ứng đồng thời các điều kiện, trong đó có điều kiện:
- Khoản chi thực tế phát sinh và liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh;
- Có hóa đơn, chứng từ theo quy định;
- Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với khoản thanh toán từ 05 triệu đồng trở lên.
Khoản chi 500 triệu đồng trong tình huống này không thực tế phát sinh, vì Công ty D không cung cấp dịch vụ. Do đó, dù Công ty C có hóa đơn và có chứng từ chuyển khoản ngân hàng, khoản tiền này vẫn không đáp ứng điều kiện để tính vào chi phí được trừ.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP, khoản chi phải là khoản chi thực tế phát sinh, có đủ hóa đơn, chứng từ và đáp ứng điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt. Chứng từ chuyển khoản chỉ chứng minh có dòng tiền chuyển qua ngân hàng, không chứng minh được dịch vụ thực tế đã được cung cấp.
Nếu Công ty C kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào trên hóa đơn này thì cũng không được khấu trừ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, cơ sở kinh doanh không đáp ứng điều kiện khấu trừ hoặc sử dụng hóa đơn, chứng từ được lập từ hành vi bị cấm thì không được khấu trừ thuế GTGT.
3. Việc thanh toán qua ngân hàng có làm thay đổi bản chất hành vi không?
Không.
Thanh toán qua ngân hàng chỉ đáp ứng một điều kiện về hình thức thanh toán đối với các khoản chi đủ điều kiện. Nó không thể thay thế điều kiện bắt buộc là:
- Có giao dịch thực tế;
- Có dịch vụ thực tế được cung cấp;
- Khoản chi thực sự phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh;
- Hóa đơn phản ánh đúng bản chất và giá trị giao dịch.
Trong trường hợp này, việc chuyển 500 triệu đồng qua ngân hàng có thể được xem là phương thức thực hiện hoặc che giấu thỏa thuận lập hóa đơn khống. Nếu sau đó Công ty D chuyển lại tiền cho Công ty C, chuyển cho cá nhân liên quan hoặc hai bên có thỏa thuận hoàn trả, đây còn có thể là chứng cứ thể hiện mục đích gian dối.
Vì vậy, “thanh toán qua ngân hàng” không làm cho hóa đơn khống trở thành hợp pháp và không loại trừ dấu hiệu trốn thuế.
4. Trách nhiệm về thuế và xử phạt hành chính
Căn cứ vào khoản 3 Điều 44 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, hành vi trốn thuế có thể bị phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 44 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, đối với hành vi trốn thuế, mức phạt tiền không phân biệt giữa tổ chức và cá nhân.
Công ty C có thể phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Loại khoản chi 500 triệu đồng khỏi chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
- Kê khai điều chỉnh, nộp bổ sung số thuế TNDN thiếu.
- Nếu đã kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì phải điều chỉnh giảm số thuế GTGT được khấu trừ.
- Nộp tiền chậm nộp đối với số thuế thiếu.
- Có thể bị phạt từ 01 đến 03 lần số tiền thuế trốn, tùy tính chất, mức độ và tình tiết của vụ việc.
- Hóa đơn đã sử dụng có thể bị buộc xử lý, hủy hoặc điều chỉnh theo quy định về hóa đơn, chứng từ.
Số tiền thuế trốn không mặc nhiên bằng 500 triệu đồng. Đây là giá trị hóa đơn. Số tiền thuế trốn phải được xác định trên cơ sở số thuế thực tế bị giảm do Công ty C hạch toán khoản chi không có thật, bao gồm thuế TNDN và có thể cả thuế GTGT nếu có kê khai khấu trừ.
5. Khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Hành vi có thể bị xem xét về Tội trốn thuế nếu số tiền thuế trốn đạt ngưỡng luật định hoặc thuộc trường hợp tái phạm theo quy định hình sự.
Căn cứ vào điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 47 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14, việc sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán đầu vào làm giảm số thuế phải nộp hoặc sử dụng chứng từ không hợp pháp để xác định sai số thuế là hành vi có thể cấu thành tội trốn thuế.
Đối với cá nhân thực hiện hành vi, nếu số tiền thuế trốn từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã từng bị xử phạt hoặc kết án về hành vi, tội phạm liên quan mà chưa được xóa án tích, có thể bị:
- Phạt tiền;
- Hoặc phạt tù theo khung hình phạt của Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Nếu có các tình tiết như phạm tội có tổ chức, số tiền thuế trốn từ 300 triệu đồng trở lên, phạm tội nhiều lần hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì hình phạt có thể nghiêm khắc hơn.
Công ty C là pháp nhân thương mại nên có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 76 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Luật số 12/2017/QH14, pháp nhân thương mại có thể chịu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế quy định tại Điều 200.
Theo khoản 5 Điều 200 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, pháp nhân thương mại có thể bị:
- Phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng trong trường hợp thuộc khung cơ bản;
- Phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng trong trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng;
- Phạt tiền từ 3 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn trong trường hợp số tiền thuế trốn từ 1 tỷ đồng trở lên;
- Có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực hoặc cấm huy động vốn.
Tuy nhiên, chưa thể khẳng định Công ty C chắc chắn bị truy cứu hình sự vì cần xác định thêm:
- Số thuế thực tế bị trốn;
- Hóa đơn được sử dụng để giảm thuế TNDN, khấu trừ GTGT hay cả hai;
- Công ty đã kê khai, quyết toán khoản chi này chưa;
- Có tình tiết tăng nặng, tái phạm hoặc phạm tội có tổ chức hay không;
- Vai trò và mức độ tham gia của giám đốc, kế toán, người lập hồ sơ và người đại diện Công ty D.
6. Trách nhiệm của giám đốc và Công ty D
Giám đốc Công ty C có thể bị xem xét trách nhiệm cá nhân nếu trực tiếp thỏa thuận, chỉ đạo hoặc phê duyệt việc lập và sử dụng hóa đơn khống.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Luật số 76/2025/QH15, người đại diện theo pháp luật phải thực hiện quyền, nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, trung thành và chịu trách nhiệm cá nhân theo quy định pháp luật đối với thiệt hại do vi phạm trách nhiệm của mình.
Đối với Công ty D, việc lập hóa đơn cho dịch vụ không cung cấp trên thực tế có thể dẫn đến:
- Trách nhiệm về hành vi lập, phát hành hóa đơn không hợp pháp;
- Trách nhiệm đồng phạm hoặc giúp sức cho hành vi trốn thuế của Công ty C nếu có thỏa thuận, biết rõ mục đích và cùng thực hiện;
- Trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế hoặc tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn nếu đáp ứng đầy đủ dấu hiệu và ngưỡng định lượng tương ứng.
Tuy nhiên, với dữ kiện hiện có, chưa thể xác định Công ty D có đủ điều kiện bị truy cứu về Điều 203 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, vì điều này còn phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính, thiệt hại ngân sách và vai trò thực tế của Công ty D.
Kết luận
- Hóa đơn dịch vụ 500 triệu đồng không có giao dịch thực tế là hóa đơn khống, được sử dụng không hợp pháp.
- Nếu Công ty C sử dụng hóa đơn này để giảm số thuế TNDN phải nộp thì có dấu hiệu trốn thuế.
- Thanh toán qua ngân hàng không làm thay đổi bản chất của giao dịch giả và không làm khoản chi trở thành chi phí được trừ.
- Công ty C có thể phải loại chi phí, kê khai nộp bổ sung thuế, nộp tiền chậm nộp và bị phạt từ 01 đến 03 lần số tiền thuế trốn.
- Nếu số tiền thuế trốn đạt ngưỡng luật định, Công ty C và cá nhân liên quan có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Công ty D và những người liên quan cũng có thể phải chịu trách nhiệm nếu biết rõ và cùng tham gia việc lập hóa đơn khống.
Một số đặc điểm nổi bật của AI Luật - Trợ lý LuatVietnam.vn
- Được huấn luyện trên hệ thống văn bản Đúng - Đủ - Sạch - Sống
- Có đầy đủ căn cứ pháp lý (mới nhất) ở mỗi câu trả lời
- Văn phong tự nhiên như trò chuyện với chuyên gia
Trải nghiệm ngayTẠI ĐÂY
RSS