Mở rộng trách nhiệm của nền tảng số trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Pháp luật về sở hữu trí tuệ đang từng bước mở rộng trách nhiệm của sàn thương mại điện tử, mạng xã hội và các nền tảng số nhằm tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng.

​Bổ sung trách nhiệm của chủ quản nền tảng số

Tình trạng đăng bán hàng giả, sao chép nội dung, sử dụng trái phép hình ảnh, video hoặc livestream sử dụng nhạc chưa xin phép xuất hiện ngày càng phổ biến trên môi trường số. Trước thực trạng này, pháp luật về sở hữu trí tuệ đã từng bước hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp nền tảng số trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 đã bổ sung Điều 198b vào Luật Sở hữu trí tuệ, lần đầu tiên quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian đối với việc bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan trên môi trường mạng.

Theo quy định này, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được hiểu là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật để tổ chức, cá nhân đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông, Internet hoặc cung cấp kết nối trực tuyến để công chúng tiếp cận nội dung số.

Điều 198b yêu cầu các doanh nghiệp này phải triển khai các biện pháp kỹ thuật cần thiết, phối hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như phối hợp chủ thể quyền nhằm bảo vệ quyền trên môi trường mạng. Quy định này tác động trực tiếp đến nhiều mô hình nền tảng số hiện nay như sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, nền tảng chia sẻ video, website nội dung số hoặc các ứng dụng cho phép người dùng đăng tải nội dung.

Đáng chú ý, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, số 131/2025/QH15 đã sửa đổi Điều 198b theo hướng mở rộng đáng kể phạm vi điều chỉnh. Nếu trước đây trách nhiệm chủ yếu tập trung vào quyền tác giả và quyền liên quan thì hiện nay đã mở rộng thành trách nhiệm pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số.

Bên cạnh đó, Luật mới còn bổ sung trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trong việc triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, an ninh mạng và các quy định pháp luật có liên quan.

Điều này đồng nghĩa với việc trách nhiệm của các nền tảng hiện nay không còn chỉ giới hạn ở video, âm nhạc hoặc nội dung số, mà đã mở rộng sang nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ khác như nhãn hiệu, logo, bao bì, hình ảnh sản phẩm hoặc các dấu hiệu nhận diện thương mại bị xâm phạm trên môi trường số.

Mở rộng trách nhiệm của nền tảng số trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Mở rộng trách nhiệm của nền tảng số trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (Ảnh minh họa)

Chủ động xây dựng cơ chế xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ

Pháp luật hiện hành đã quy định khá rõ các hành vi được xem là xâm phạm quyền tác giả trên môi trường số. Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi vi phạm có thể bao gồm sao chép tác phẩm trái phép, truyền đạt tác phẩm tới công chúng qua mạng mà không được phép, phân phối bản sao trái phép hoặc cố ý vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả.

Trên thực tế, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang xuất hiện ngày càng nhiều với nhiều hình thức khác nhau như đăng bán hàng giả, hàng xâm phạm nhãn hiệu, sử dụng trái phép hình ảnh sản phẩm, sao chép nội dung website, reup video, khai thác trái phép nội dung số, livestream bán hàng sử dụng nhạc chưa được cấp phép hoặc đăng tải nội dung khi chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền.

Trong bối cảnh trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được mở rộng, các nền tảng số cần chủ động xây dựng cơ chế tiếp nhận phản ánh, quy trình xác minh thông tin, cơ chế xử lý hoặc gỡ bỏ nội dung vi phạm, đồng thời triển khai các giải pháp kỹ thuật phục vụ công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, việc mở rộng trách nhiệm không đồng nghĩa với việc mọi sàn thương mại điện tử hoặc mạng xã hội mặc nhiên phải chịu trách nhiệm thay cho người bán hoặc người đăng tải nội dung.

Khoản 2 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 quy định việc khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan.

Do đó, việc xác định trách nhiệm cụ thể của nền tảng trong từng trường hợp vẫn phụ thuộc vào hành vi thực tế xảy ra, mức độ tham gia của nền tảng, cơ chế xử lý vi phạm đã được triển khai cũng như các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Có thể thấy, xu hướng quản lý hiện nay không đặt ra trách nhiệm tuyệt đối đối với sàn thương mại điện tử hay mạng xã hội, tuy nhiên lại yêu cầu các nền tảng phải chủ động hơn trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng.

Nguồn Báo Nhân Dân

(Bài viết có sự phối hợp cung cấp dữ liệu và thông tin pháp lý từ LuatVietnam.vn, được đăng trên báo Nhân Dân ngày 05/6/2026)

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Nhà phát triển, nhà cung cấp AI có phải ban hành Bộ quy tắc đạo đức AI nội bộ?

Nhà phát triển, nhà cung cấp AI có phải ban hành Bộ quy tắc đạo đức AI nội bộ?

Nhà phát triển, nhà cung cấp AI có phải ban hành Bộ quy tắc đạo đức AI nội bộ?

Trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được ứng dụng rộng rãi, kéo theo yêu cầu kiểm soát rủi ro về minh bạch, an toàn và trách nhiệm. Vậy nhà phát triển, nhà cung cấp AI có phải ban hành Bộ quy tắc đạo đức AI nội bộ theo quy định mới?

Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN áp dụng cho những ai?

Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN áp dụng cho những ai?

Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN áp dụng cho những ai?

Thông tư số 05/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia, quy định các nguyên tắc định hướng trong nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo. Vậy Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia áp dụng cho những ai?

Mẫu phiếu tự đánh giá tuân thủ đạo đức AI theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN là mẫu nào?

Mẫu phiếu tự đánh giá tuân thủ đạo đức AI theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN là mẫu nào?

Mẫu phiếu tự đánh giá tuân thủ đạo đức AI theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN là mẫu nào?

Thông tư 05/2026/TT-BKHCN ban hành Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia, trong đó có hướng dẫn mẫu phiếu để tổ chức, cá nhân tự đánh giá mức độ tuân thủ các nguyên tắc đạo đức AI. Vậy mẫu phiếu tự đánh giá tuân thủ đạo đức AI theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN là mẫu nào?

Đã có Bảng so sánh Thông tư 46/2026/TT-NHNN với Thông tư 15/2023/TT-NHNN về hoạt động thông tin tín dụng

Đã có Bảng so sánh Thông tư 46/2026/TT-NHNN với Thông tư 15/2023/TT-NHNN về hoạt động thông tin tín dụng

Đã có Bảng so sánh Thông tư 46/2026/TT-NHNN với Thông tư 15/2023/TT-NHNN về hoạt động thông tin tín dụng

Bảng so sánh Thông tư 46/2026/TT-NHNN với Thông tư 15/2023/TT-NHNN giúp người đọc nhanh chóng nhận diện những thay đổi quan trọng trong quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Cơ quan Nhà nước phải sử dụng Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN như thế nào?

Cơ quan Nhà nước phải sử dụng Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN như thế nào?

Cơ quan Nhà nước phải sử dụng Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN như thế nào?

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công đặt ra yêu cầu bảo đảm an toàn, minh bạch và trách nhiệm trong quá trình triển khai. Vậy cơ quan Nhà nước phải sử dụng Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN như thế nào?

Nhà phát triển, nhà cung cấp AI có trách nhiệm gì theo Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia tại Thông tư 05/2026/TT-BKHCN?

Nhà phát triển, nhà cung cấp AI có trách nhiệm gì theo Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia tại Thông tư 05/2026/TT-BKHCN?

Nhà phát triển, nhà cung cấp AI có trách nhiệm gì theo Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia tại Thông tư 05/2026/TT-BKHCN?

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) kéo theo yêu cầu về trách nhiệm của các chủ thể tham gia nghiên cứu, phát triển, cung cấp và triển khai hệ thống AI. Vậy nhà phát triển, nhà cung cấp AI có trách nhiệm gì theo Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia tại Thông tư 05/2026/TT-BKHCN? Bài viết dưới đây làm rõ các trách nhiệm của nhóm chủ thể này theo quy định tại Thông tư 05/2026/TT-BKHCN.

 

Điểm mới Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026

Điểm mới Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026

Điểm mới Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026

Ngày 23/8/2026, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, số 15/2026/QH16. Bài viết dưới đây là một số điểm mới đáng chú ý Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026.