Thời điểm 01/4/2026, hai Luật mới gồm Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 và Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 sẽ chính thức có hiệu lực với những thay đổi quan trọng và đáng chú ý. Dưới đây là tổng hợp của LuatVietnam.

1. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã được sửa đổi, bổ sung qua nhiều lần nhằm phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, cụ thể gồm:
-
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009
-
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019
-
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022
Đến nay, văn bản hợp nhất mới nhất là Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-VPQH năm 2025, hợp nhất các quy định từ 04 văn bản gồm: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009; Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019; và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2022.
Đáng chú ý, Quốc hội thông qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã bổ sung và làm rõ hơn các nội dung liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI).
Nội dung đáng chú ý Luật số 131/2025/QH15
(1) Bổ sung chính sách mới về quản lý, khai thác và thương mại hóa quyền SHTT
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã bổ sung Điều 8a - một điều hoàn toàn mới, lần đầu tiên quy định trực tiếp về quản lý và khai thác quyền SHTT như một loại tài sản.
- Chủ sở hữu có trách nhiệm quản trị nội bộ quyền SHTT;
- Quyền SHTT được sử dụng để góp vốn, thế chấp, đầu tư, giao dịch thương mại;
- Nhà nước khuyến khích khai thác quyền SHTT để huy động vốn và phát triển sản xuất, kinh doanh.
(2) Lần đầu tiên luật hóa vấn đề sở hữu trí tuệ gắn với trí tuệ nhân tạo
Một trong những điểm mới có tính đột phá là bổ sung quy định về phát sinh, xác lập quyền SHTT đối với đối tượng được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo. Cụ thể:
Khoản 2 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, số 131/2025/QH15 đã bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật sửa đổi giao Chính phủ quy định chi tiết việc xác lập quyền trong trường hợp đối tượng sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng AI.
(3) Siết chặt trách nhiệm của nền tảng số và doanh nghiệp trung gian
Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, đổi tên thành quy định về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số.
Cụ thể sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:
“Điều 198b. Trách nhiệm pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật, nền tảng số để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên không gian mạng; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên không gian mạng.”;
c) Bổ sung khoản 5a vào sau khoản 5 như sau:
“5a. Chủ quản nền tảng số có trách nhiệm triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan.”.
Theo đó:
Doanh nghiệp trung gian, chủ quản nền tảng số phải triển khai các biện pháp bảo vệ quyền SHTT trên không gian mạng; Phải phối hợp với chủ thể quyền và cơ quan nhà nước khi phát hiện vi phạm.
Ngoài ra Luật còn sửa đổi sâu rộng thủ tục đăng ký, thẩm định và cấp văn bằng bảo hộ. Cụ thể, sửa đổi hàng loạt điều từ Điều 89 đến Điều 119, với các điểm nổi bật như:
-
Mở rộng nộp đơn điện tử, công bố sớm đơn đăng ký nhãn hiệu;
-
Rút ngắn thời gian thẩm định, bổ sung cơ chế thẩm định nhanh;
-
Làm rõ quyền phản đối của bên thứ ba;
-
Tăng trách nhiệm của người nộp đơn về tính trung thực của thông tin...
2. Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025
Mặc dù đã có nhiều sửa đổi, bổ sung, Luật Chuyển giao công nghệ 2017, số 07/2017/QH14 vẫn là văn bản pháp luật nền tảng điều chỉnh hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam. Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, quy định về hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước và từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài, cũng như quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.
Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xu hướng đổi mới sáng tạo, Quốc hội đã ban hành Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025, có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.
Luật số 115/2025/QH15 quy định các nội dung đáng chú ý
(1) Bổ sung quy định về Nhà nước mua và phổ biến công nghệ
Tại khoản 16 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ số sửa đổi 2025 đã bổ sung nhiều quy định quan trọng, trong đó đáng chú ý là nội dung về Nhà nước mua và phổ biến công nghệ
- Nhà nước mua quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ để phổ biến nhằm các mục đích sau đây:
+ Phục vụ quốc phòng, an ninh;
+ Phục vụ hoạt động giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh.
- Việc mua công nghệ phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: công nghệ có giá trị sử dụng, phù hợp năng lực triển khai, quyền sở hữu trí tuệ rõ ràng và sử dụng ngân sách minh bạch, hiệu quả.
- Nhà nước phổ biến công nghệ bằng một hoặc nhiều hình thức: miễn phí, ưu đãi hoặc cấp quyền sử dụng có điều kiện; thúc đẩy hợp tác cùng phát triển công nghệ để nâng cao năng lực của tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam.
Điểm b khoản 1 Điều 1 Luật số 115/2025/QH15 đã bổ sung nội dung quan trọng về khái niệm công nghệ xanh
Theo đó, công nghệ xanh được hiểu là công nghệ nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, thân thiện với môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
(3) Bổ sung một số chính sách đối với hoạt động chuyển giao công nghệ
Tại khoản 2 Điều 1 Luật số 115/2025/QH15 đã bổ sung một số chính sách ưu tiên đối với hoạt động chuyển giao công nghệ, cụ thể:
- Ưu tiên chuyển giao công nghệ chiến lược, công nghệ xanh và công nghệ phục vụ các dự án quan trọng quốc gia; đồng thời chú trọng các hoạt động chuyển giao công nghệ cho các địa bàn vùng miền núi, hải đảo.
- Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ chiến lược, đặc biệt là lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước.
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam, nhằm nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ trong nước. Việc chuyển giao trong khuôn khổ đầu tư nước ngoài phải tự nguyện, dựa trên thỏa thuận giữa các bên, đồng thời bảo đảm tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Ưu tiên áp dụng các chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng và các biện pháp khuyến khích khác đối với dự án đầu tư nước ngoài có nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hoặc ứng dụng công nghệ tại Việt Nam.
RSS