Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, số 07/2022/QH15

  • Tóm tắt
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Mục lục
Tìm từ trong trang
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

QUỐC HỘI
_________

Luật số: 07/2022/QH15

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________

Hà Nội, ngày 16 tháng 6 năm 2022

LUẬT

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12 và Luật số 42/2019/QH14.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung các khoản 8, 9 và 10; bổ sung các khoản 10a, 10b, 10c và 10d vào sau khoản 10; sửa đổi, bổ sung khoản 11 và bổ sung khoản 11a vào sau khoản 11 như sau:
“8. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác.
9. Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố là tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã được phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan để phổ biến đến công chúng bản sao dưới bất kỳ hình thức nào với số lượng hợp lý.
10. Sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
10a. Tiền bản quyền là khoản tiền trả cho việc sáng tạo hoặc chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, bao gồm cả tiền nhuận bút, tiền thù lao.
10b. Biện pháp công nghệ bảo vệ quyền là biện pháp sử dụng bất kỳ kỹ thuật, công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện nào trong quá trình hoạt động bình thường có chức năng chính nhằm bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan đối với hành vi được thực hiện mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.
10c. Biện pháp công nghệ hữu hiệu là biện pháp công nghệ bảo vệ quyền mà chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan kiểm soát việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa thông qua các ứng dụng kiểm soát truy cập, quy trình bảo vệ hoặc cơ chế kiểm soát sao chép.
10d. Thông tin quản lý quyền là thông tin xác định về tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa; về tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan và các điều kiện khai thác, sử dụng; số hiệu, mã số thể hiện các thông tin nêu trên. Thông tin quản lý quyền phải gắn liền với bản sao hoặc xuất hiện đồng thời với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng khi tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được truyền đến công chúng.
11. Phát sóng là việc truyền đến công chúng bằng phương tiện vô tuyến âm thanh hoặc hình ảnh, âm thanh và hình ảnh, sự tái hiện âm thanh hoặc hình ảnh, sự tái hiện âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh, truyền tín hiệu được mã hóa trong trường hợp phương tiện giải mã được tổ chức phát sóng cung cấp tới công chúng hoặc được cung cấp với sự đồng ý của tổ chức phát sóng.
11a. Truyền đạt đến công chúng là việc truyền đến công chúng tác phẩm; âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn; âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện của âm thanh, hình ảnh được định hình trong bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện nào ngoài phát sóng.”;
b) Bổ sung khoản 12a vào sau khoản 12 và sửa đổi, bổ sung khoản 13 như sau:
“12a. Sáng chế mật là sáng chế được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định là bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
13. Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phức hợp.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 20 như sau:
“20. Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được bộ phận công chúng có liên quan biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam.”;
d) Sửa đổi, bổ sung khoản 22 và bổ sung khoản 22a vào sau khoản 22 như sau:
“22. Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia cụ thể.
22a. Chỉ dẫn địa lý đồng âm là các chỉ dẫn địa lý có cách phát âm hoặc cách viết trùng nhau.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 7 như sau:
“2. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và không được vi phạm quy định khác của pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 khoản 3 Điều 8 như sau:
“2. Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ thông qua hỗ trợ về tài chính, ưu đãi về thuế, tín dụng và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
3. Hỗ trợ tài chính cho việc tạo ra, nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động đổi mới sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.”.
4. Bổ sung Điều 12a vào trước Điều 13 trong Mục 1 Chương I Phần thứ hai như sau:
“Điều 12a. Tác giả, đồng tác giả
1. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.
2. Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.
3. Việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm có đồng tác giả phải có sự thỏa thuận của các đồng tác giả, trừ trường hợp tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác hoặc luật khác có quy định khác.”.
5. Sửa đổi, bổ sung các điều 19, 20 và 21 như sau:
“Điều 19. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm:
1. Đặt tên cho tác phẩm.
Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;
2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Điều 20. Quyền tài sản
1. Quyền tài sản bao gồm:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
c) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
đ) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê.
2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện theo quy định của Luật này.
Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này. Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật này còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
3. Chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Điều 21. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu
1. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh được quy định như sau:
a) Biên kịch, đạo diễn được hưởng quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này;
b) Quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, kỹ xảo, diễn viên điện ảnh và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh được hưởng quyền quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này;
c) Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh là chủ sở hữu các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản; có nghĩa vụ trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) theo hợp đồng với những người quy định tại điểm a và điểm b khoản này;
d) Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh có thể thỏa thuận với những người quy định tại điểm a khoản này về việc đặt tên, sửa đổi tác phẩm;
đ) Trường hợp kịch bản, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm điện ảnh được sử dụng độc lập thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của kịch bản, tác phẩm âm nhạc được hưởng quyền tác giả một cách độc lập đối với kịch bản, tác phẩm âm nhạc đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
2. Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu được quy định như sau:
a) Tác giả kịch bản sân khấu được hưởng quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này;
b) Tác giả tác phẩm văn học, tác giả tác phẩm âm nhạc, đạo diễn sân khấu, chỉ huy âm nhạc, biên đạo múa, thiết kế sân khấu, phục trang và những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm sân khấu được hưởng quyền quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này;
c) Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để xây dựng tác phẩm sân khấu là chủ sở hữu các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản; có nghĩa vụ trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) theo hợp đồng với những người quy định tại điểm a và điểm b khoản này;
d) Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để xây dựng tác phẩm sân khấu có thể thỏa thuận với những người quy định tại điểm a khoản này về việc đặt tên, sửa đổi tác phẩm;
đ) Trường hợp tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm sân khấu được sử dụng độc lập thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc được hưởng quyền tác giả một cách độc lập đối với tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.”.
6. Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 22 như sau:
“1. Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình máy tính thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.
Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính có quyền thỏa thuận bằng văn bản với nhau về việc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính. Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp bản sao chương trình máy tính được làm một bản sao dự phòng để thay thế khi bản sao đó bị xóa, bị hỏng hoặc không thể sử dụng nhưng không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác.”.
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 25 và bổ sung Điều 25a vào sau Điều 25; sửa đổi, bổ sung Điều 26 như sau:
“Điều 25. Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả
1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:
a) Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép;
b) Sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;
c) Sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy. Việc sử dụng này có thể bao gồm việc cung cấp trong mạng máy tính nội bộ với điều kiện phải có các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm chỉ người học và người dạy trong buổi học đó có thể tiếp cận tác phẩm này;
d) Sử dụng tác phẩm trong hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước;
đ) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu;
e) Sử dụng tác phẩm trong hoạt động thư viện không nhằm mục đích thương mại, bao gồm sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ; sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập; sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số;
g) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại;
h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó, không nhằm mục đích thương mại;
i) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng cá nhân, không nhằm mục đích thương mại;
k) Sao chép bằng cách đăng tải lại trên báo, ấn phẩm định kỳ, phát sóng hoặc các hình thức truyền thông khác tới công chúng bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác được trình bày trước công chúng trong phạm vi phù hợp với mục đích thông tin thời sự, trừ trường hợp tác giả tuyên bố giữ bản quyền;
l) Chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phát sóng sự kiện nhằm mục đích đưa tin thời sự, trong đó có sử dụng tác phẩm được nghe thấy, nhìn thấy trong sự kiện đó;
m) Người khuyết tật nhìn, người khuyết tật không có khả năng đọc chữ in và người khuyết tật khác không có khả năng tiếp cận tác phẩm để đọc theo cách thông thường (sau đây gọi là người khuyết tật), người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật, tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ sử dụng tác phẩm theo quy định tại Điều 25a của Luật này.
2. Việc sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
3. Việc sao chép quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật, chương trình máy tính; việc làm tuyển tập, hợp tuyển các tác phẩm.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 25a. Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả dành cho người khuyết tật
1. Người khuyết tật, người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật được quyền sao chép, biểu diễn, truyền đạt tác phẩm dưới định dạng bản sao dễ tiếp cận của tác phẩm khi có quyền tiếp cận hợp pháp với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm. Bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận là bản sao của tác phẩm được thể hiện bằng một phương thức hay định dạng khác dành cho người khuyết tật; chỉ được sử dụng cho mục đích cá nhân của người khuyết tật và có thể có những điều chỉnh kỹ thuật phù hợp, cần thiết để người khuyết tật có thể tiếp cận tác phẩm.
2. Tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có quyền sao chép, phân phối, biểu diễn, truyền đạt tác phẩm dưới định dạng bản sao dễ tiếp cận của tác phẩm khi có quyền tiếp cận hợp pháp bản gốc hoặc bản sao tác phẩm và hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
3. Tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có quyền phân phối hoặc truyền đạt bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận của tác phẩm tới tổ chức tương ứng theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
4. Tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có quyền phân phối hoặc truyền đạt bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận của tác phẩm tới người khuyết tật ở nước ngoài theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả với điều kiện trước khi phân phối hoặc truyền đạt, tổ chức này không biết hoặc không có cơ sở để biết bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận này sẽ được sử dụng cho bất cứ đối tượng nào khác ngoài người khuyết tật.
5. Người khuyết tật hoặc người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật hoặc tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có quyền nhập khẩu bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận của tác phẩm từ tổ chức tương ứng theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên vì lợi ích của người khuyết tật mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 26. Giới hạn quyền tác giả
1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:
a) Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ;
b) Trường hợp tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại thì tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình này trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm đó theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định chi tiết các hoạt động kinh doanh, thương mại quy định tại điểm này.
2. Việc sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.
4. Tổ chức, cá nhân Việt Nam hưởng ưu đãi dành cho các nước đang phát triển đối với quyền dịch tác phẩm từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và quyền sao chép để giảng dạy, nghiên cứu không nhằm mục đích thương mại theo quy định tại các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
5. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 28 như sau:
“Điều 28. Hành vi xâm phạm quyền tác giả
1. Xâm phạm quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật này.
2. Xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.
3. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại các điều 25, 25a và 26 của Luật này.
4. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 35 của Luật này.
5. Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền tác giả.
6. Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
7. Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
8. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật này.”.
9. Sửa đổi, bổ sung các điều 29, 30, 31, 32 và 33 như sau:
“Điều 29. Quyền của người biểu diễn
1. Người biểu diễn có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn theo quy định của Luật này.
Trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn thì người biểu diễn được hưởng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều này; chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn được hưởng các quyền tài sản quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Quyền nhân thân bao gồm:
a) Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;
b) Bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.
3. Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều này;
c) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;
d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 5 Điều này;
đ) Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm, ghi hình, kể cả sau khi được phân phối bởi người biểu diễn hoặc với sự cho phép của người biểu diễn;
e) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn của mình, bao gồm cả cung cấp đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
4. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 3 Điều này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này.
5. Chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép cuộc biểu diễn chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Điều 30. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
1. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Sao chép toàn bộ hoặc một phần bản ghi âm, ghi hình của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
b) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
c) Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình, kể cả sau khi được phân phối bởi nhà sản xuất hoặc với sự cho phép của nhà sản xuất;
d) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản ghi âm, ghi hình của mình, bao gồm cả cung cấp tới công chúng bản ghi âm, ghi hình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
2. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này.
3. Chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép bản ghi âm, ghi hình chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Điều 31. Quyền của tổ chức phát sóng
1. Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần bản định hình chương trình phát sóng của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
c) Định hình chương trình phát sóng của mình;
d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản định hình chương trình phát sóng của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này.
2. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này.
3. Chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép chương trình phát sóng chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp chương trình phát sóng, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản định hình chương trình phát sóng đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Điều 32. Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền liên quan
1. Các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng bao gồm:
a) Ghi âm, ghi hình trực tiếp một phần cuộc biểu diễn để giảng dạy không nhằm mục đích thương mại hoặc để đưa tin thời sự;
b) Tự sao chép hoặc hỗ trợ người khuyết tật sao chép một phần cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;
c) Sao chép hợp lý một phần cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng để giảng dạy trực tiếp của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại, trừ trường hợp cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng này đã được công bố để giảng dạy;
d) Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích đưa tin thời sự;
đ) Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng khi được hưởng quyền phát sóng.
2. Việc sử dụng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 33. Giới hạn quyền liên quan
1. Các trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về bản ghi âm, ghi hình bao gồm:
a) Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ;
b) Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền theo thỏa thuận cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định chi tiết các hoạt động kinh doanh, thương mại quy định tại điểm này.
2. Việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
3. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền liên quan thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.”.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 35 như sau:
“Điều 35. Hành vi xâm phạm quyền liên quan
1. Xâm phạm quyền của người biểu diễn quy định tại Điều 29 của Luật này.
2. Xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quy định tại Điều 30 của Luật này.
3. Xâm phạm quyền của tổ chức phát sóng quy định tại Điều 31 của Luật này.
4. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Điều 32 và Điều 33 của Luật này.
5. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 28 của Luật này.
6. Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền liên quan.
7. Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền liên quan theo quy định của pháp luật.
8. Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng cuộc biểu diễn, bản sao cuộc biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền liên quan theo quy định của pháp luật.
9. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, chào bán, bán hoặc cho thuê thiết bị, hệ thống khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, hệ thống đó giải mã trái phép hoặc chủ yếu để giúp cho việc giải mã trái phép tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
10. Cố ý thu hoặc tiếp tục phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa khi tín hiệu đã được giải mã mà không được phép của người phân phối hợp pháp.
11. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật này.”.
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 36 như sau:
“Điều 36. Chủ sở hữu quyền tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này.”.
12. Sửa đổi, bổ sung các điều 41, 42, 43, 44 và bổ sung Điều 44a vào sau Điều 44 trong Chương III Phần thứ hai như sau:
“Điều 41. Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền
1. Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này theo thỏa thuận trong hợp đồng là chủ sở hữu quyền tác giả.
2. Tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc nhận chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả, đồng tác giả được xác định. Khi danh tính của tác giả, đồng tác giả được xác định thì chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm này, các quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền tác giả của tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc nhận chuyển nhượng được xác định theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 42. Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là Nhà nước
1. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trong các trường hợp sau đây:
a) Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được sáng tạo do cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu;
b) Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan cho Nhà nước;
c) Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan chết không có người thừa kế; người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản.
2. Nhà nước đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan trong các trường hợp sau đây:
a) Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không thể tìm được hoặc không xác định được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định của Luật này;
b) Tác phẩm khuyết danh cho đến khi danh tính của tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả được xác định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này.
3. Cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước để đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu để sáng tạo tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng là đại diện Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
Cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan là đại diện Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trong trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này; quy định biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 43. Tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về công chúng
1. Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này và cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 34 của Luật này thì thuộc về công chúng.
2. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng quy định tại khoản 1 Điều này nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả, người biểu diễn quy định tại Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Chính phủ quy định chi tiết việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về công chúng.
Điều 44. Chủ sở hữu quyền liên quan
1. Chủ sở hữu quyền liên quan bao gồm:
a) Người biểu diễn sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để thực hiện cuộc biểu diễn là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên quan;
b) Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sản xuất bản ghi âm, ghi hình là chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên quan;
c) Tổ chức phát sóng là chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên quan.
2. Chủ sở hữu quyền liên quan là tổ chức giao nhiệm vụ cho tổ chức, cá nhân thuộc tổ chức của mình thực hiện cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng là chủ sở hữu các quyền tương ứng quy định tại khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 31 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Chủ sở hữu quyền liên quan là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân khác thực hiện cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng là chủ sở hữu các quyền tương ứng quy định tại khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 31 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền liên quan theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền tương ứng quy định tại khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 31 của Luật này.
5. Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền theo thỏa thuận trong hợp đồng là chủ sở hữu một, một số hoặc toàn bộ các quyền tương ứng quy định tại khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 31 của Luật này.
Điều 44a. Nguyên tắc xác định và phân chia tiền bản quyền
1. Các đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận về tỷ lệ phân chia tiền bản quyền theo phần tham gia sáng tạo đối với toàn bộ tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, phần vốn góp và phù hợp với hình thức khai thác, sử dụng.
2. Tỷ lệ phân chia tiền bản quyền khi bản ghi âm, ghi hình được sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 33 của Luật này thực hiện theo thỏa thuận của chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình đó; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Tiền bản quyền được xác định theo khung và biểu mức căn cứ vào loại hình, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác, sử dụng; hài hòa lợi ích của người sáng tạo, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội theo thời gian và địa điểm diễn ra hành vi khai thác, sử dụng đó.”.
13. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 khoản 2 Điều 47 như sau:
“1. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20, khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 31 của Luật này.
2. Tác giả không được chuyển quyền sử dụng quyền nhân thân quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 19 của Luật này. Người biểu diễn không được chuyển quyền sử dụng quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này.”.
14. Sửa đổi, bổ sung Điều 49 Điều 50 như sau:
“Điều 49. Đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan
1. Đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan nộp hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.
2. Việc nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của Luật này.
3. Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.
4. Tổ chức, cá nhân phải nộp phí, lệ phí khi tiến hành các thủ tục đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan về cấp, cấp lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
5. Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện, trình tự và thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
Điều 50. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan
1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan theo cách thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua Cổng dịch vụ công trực tuyến cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan bao gồm:
a) Tờ khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan.
Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt có đầy đủ thông tin về người nộp hồ sơ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan; thời gian hoàn thành; tóm tắt nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng; tên tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; thông tin về cấp lại, cấp đổi (nếu có), cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong tờ khai. Tờ khai do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ký tên hoặc điểm chỉ, trừ trường hợp không có khả năng về thể chất để ký tên hoặc điểm chỉ.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan;
b) Hai bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc hai bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan;
c) Giấy ủy quyền, nếu người nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan là người được ủy quyền;
d) Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền do tự sáng tạo hoặc do giao nhiệm vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng sáng tạo, được thừa kế, được chuyển giao quyền;
đ) Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
e) Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung.
3. Tài liệu quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này phải được làm bằng tiếng Việt; trường hợp làm bằng ngôn ngữ khác thì phải được dịch ra tiếng Việt.”.
15. Sửa đổi, bổ sung Điều 52 như sau:
“Điều 52. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan
Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho người nộp hồ sơ. Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ.”.
16. Sửa đổi, bổ sung Điều 55 như sau:
“Điều 55. Cấp lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan
1. Trong trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan bị mất, hư hỏng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này tiến hành cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Trường hợp đề nghị thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan; thông tin về tác phẩm, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; thông tin về đối tượng quyền liên quan, chủ sở hữu quyền liên quan thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này tiến hành cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trong thời hạn mười hai ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
Trường hợp từ chối cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ.
2. Trong trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không phải là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã đăng ký không thuộc đối tượng bảo hộ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân phát hiện việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trái với quy định của Luật này thì có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
4. Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các văn bản sau đây, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan:
a) Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 200 của Luật này về việc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan;
b) Văn bản của tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đề nghị hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đã được cấp.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
17. Sửa đổi, bổ sung tên Chương VI trong Phần thứ hai như sau:
“Chương VI
TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ,
TƯ VẤN, DỊCH VỤ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN”.
18. Sửa đổi, bổ sung Điều 56 như sau:
“Điều 56. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
1. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là tổ chức tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí hoạt động, không vì mục đích lợi nhuận do các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện ủy thác quyền tác giả, quyền liên quan, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về hoạt động đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện các hoạt động sau đây theo ủy quyền bằng văn bản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan:
a) Thực hiện việc quản lý quyền tác giả, quyền liên quan; đàm phán cấp phép, thu và phân chia tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác từ việc cho phép khai thác các quyền được ủy quyền;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên; tổ chức hòa giải khi có tranh chấp.
3. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền; tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng;
b) Xây dựng danh mục tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền; tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan đang quản lý; phạm vi ủy quyền; hiệu lực hợp đồng ủy quyền; kế hoạch và kết quả hoạt động thu, phân chia tiền bản quyền;
c) Xây dựng biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền, trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền căn cứ vào các nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều 44a của Luật này;
d) Thu, phân chia tiền bản quyền theo quy định tại điều lệ của tổ chức và văn bản ủy quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thỏa thuận về mức hoặc tỷ lệ phần trăm, phương thức và thời gian phân chia tiền bản quyền; theo nguyên tắc công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật.
Việc thu, phân chia tiền bản quyền từ các tổ chức tương ứng của nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối;
đ) Được giữ lại một khoản tiền trên tổng số tiền bản quyền thu được để chi cho việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức trên cơ sở thỏa thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền. Mức tiền giữ lại được điều chỉnh trên cơ sở thỏa thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền và có thể được xác định bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số tiền thu được;
e) Phân chia tiền bản quyền thu được từ việc cấp phép khai thác, sử dụng cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan sau khi trừ chi phí quy định tại điểm đ khoản này;
g) Báo cáo hằng năm và đột xuất về hoạt động đại diện tập thể cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
h) Được thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển văn hóa, khuyến khích sáng tạo và các hoạt động xã hội khác;
i) Hợp tác, ký kết các thỏa thuận đại diện có đi có lại với các tổ chức tương ứng của tổ chức quốc tế và của các quốc gia trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan;
k) Thiết lập cơ cấu tổ chức bộ máy của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan, bảo đảm các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền được quyền ứng cử, bầu cử vào các chức danh lãnh đạo, quản lý, kiểm soát của tổ chức.
4. Trường hợp tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan được ủy quyền quản lý, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức thay mặt đàm phán cấp phép sử dụng, thu và phân chia tiền bản quyền theo điều lệ của tổ chức và văn bản ủy quyền.
5. Trường hợp tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan sau năm năm tìm kiếm để phân chia tiền bản quyền thu được mà vẫn không tìm thấy hoặc không liên lạc được với tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền thì bàn giao khoản tiền này về cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý sau khi trừ chi phí quản lý, tìm kiếm theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Sau khi nhận bàn giao, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục thông báo tìm kiếm trong thời hạn năm năm. Kết thúc thời hạn này, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn không thể tìm thấy hoặc không liên lạc được với tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan, người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật thì khoản tiền này được sử dụng vào các hoạt động khuyến khích sáng tạo, tuyên truyền và đẩy mạnh thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Trong các thời hạn nêu trên, khi tìm thấy hoặc liên lạc được với tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan, người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật thì khoản tiền này sau khi trừ chi phí quản lý, tìm kiếm được chi trả cho những người nêu trên theo quy định của pháp luật.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
19. Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 60 như sau:
“1. Sáng chế được coi là có tính mới nếu không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên;
b) Bị bộc lộ trong đơn đăng ký sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn nhưng được công bố vào hoặc sau ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế đó.”.
20. Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 72 như sau:
“1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa;”.
21. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 73 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và của các nước, quốc tế ca;”;
b) Bổ sung khoản 6 và khoản 7 vào sau khoản 5 Điều 73 như sau:
“6. Dấu hiệu là hình dạng vốn có của hàng hóa hoặc do đặc tính kỹ thuật của hàng hóa bắt buộc phải có;
7. Dấu hiệu chứa bản sao tác phẩm, trừ trường hợp được phép của chủ sở hữu tác phẩm đó.”.
22. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của khoản 2 Điều 74 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung các điểm a, b và c như sau:
“a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước ngày nộp đơn;
b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ, tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, hình dạng thông thường của hàng hóa hoặc một phần của hàng hóa, hình dạng thông thường của bao bì hoặc vật chứa hàng hóa đã được sử dụng thường xuyên và thừa nhận rộng rãi trước ngày nộp đơn;
c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc dấu hiệu làm gia tăng giá trị đáng kể cho hàng hóa, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước ngày nộp đơn;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm đ điểm e như sau:
“đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước ngày nộp đơn hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;
e) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trừ trường hợp đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 hoặc bị hủy bỏ hiệu lực theo quy định tại Điều 96 theo thủ tục quy định tại điểm b khoản 3 Điều 117 của Luật này;”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm h điểm i như sau:
“h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác đã được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá ba năm, trừ trường hợp đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 theo thủ tục quy định tại điểm b khoản 3 Điều 117 của Luật này;
i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nhãn hiệu nổi tiếng của người khác trước ngày nộp đơn đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;”;
d) Sửa đổi, bổ sung điểm n và bổ sung điểm o, điểm p vào sau điểm n như sau:
“n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác đã hoặc đang được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu;
o) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên giống cây trồng đã hoặc đang được bảo hộ tại Việt Nam nếu dấu hiệu đó đăng ký cho hàng hóa là giống cây trồng cùng loài hoặc thuộc loài tương tự hoặc sản phẩm thu hoạch từ giống cây trồng;
p) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên gọi, hình ảnh của nhân vật, hình tượng trong tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả của người khác đã được biết đến một cách rộng rãi trước ngày nộp đơn, trừ trường hợp được phép của chủ sở hữu tác phẩm đó.”.
23. Sửa đổi, bổ sung đoạn mở đầu của Điều 75 như sau:
“Việc xem xét, đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng được lựa chọn từ một số hoặc tất cả các tiêu chí sau đây:”.
24. Sửa đổi, bổ sung Điều 79 như sau:
“Điều 79. Điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
1. Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
b) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.
2. Chỉ dẫn địa lý đồng âm đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này được bảo hộ nếu chỉ dẫn địa lý đó được sử dụng trên thực tế theo cách thức không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý và bảo đảm nguyên tắc đối xử công bằng giữa các tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.”.
25. Sửa đổi, bổ sung Điều 86 và bổ sung Điều 86a vào sau Điều 86 như sau:
“Điều 86. Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1. Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:
a) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức và chi phí của mình;
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen cung cấp nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen theo hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc trường hợp quy định tại Điều 86a của Luật này.
2. Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.
3. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký quy định tại Điều này có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký.
Điều 86a. Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
1. Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước, quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được giao cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có một phần ngân sách nhà nước, phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ phần ngân sách nhà nước được giao cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia được thực hiện như sau:
a) Trường hợp nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước, quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thuộc về Nhà nước;
b) Trường hợp nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có một phần ngân sách nhà nước, phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ phần ngân sách nhà nước thuộc về Nhà nước;
c) Đại diện chủ sở hữu nhà nước thực hiện quyền đăng ký quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
26. Sửa đổi, bổ sung Điều 88 như sau:
“Điều 88. Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý
1. Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước. Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý. Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó.
2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài là chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý theo pháp luật của nước xuất xứ có quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý đó tại Việt Nam.”.
27. Bổ sung Điều 89a vào sau Điều 89 như sau:
“Điều 89a. Kiểm soát an ninh đối với sáng chế trước khi nộp đơn đăng ký ở nước ngoài
1. Sáng chế thuộc các lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến quốc phòng, an ninh, được tạo ra tại Việt Nam và thuộc quyền đăng ký của cá nhân là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam hoặc của tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam chỉ được nộp đơn đăng ký sáng chế ở nước ngoài nếu đã được nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam để thực hiện thủ tục kiểm soát an ninh.
2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này.”.
28. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 92 như sau:
“2. Văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý ghi nhận tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tính chất đặc thù về điều kiện địa lý và khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý.”.
29. Bổ sung khoản 8 và khoản 9 vào sau khoản 7 Điều 93 như sau:
“8. Đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Nghị định thư và Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ra quyết định chấp nhận bảo hộ đối với nhãn hiệu trong đăng ký quốc tế đó hoặc kể từ ngày tiếp theo ngày kết thúc thời hạn mười hai tháng tính từ ngày Văn phòng quốc tế ra thông báo đăng ký quốc tế nhãn hiệu đó chỉ định Việt Nam, tính theo thời điểm nào sớm hơn. Thời hạn hiệu lực của đăng ký quốc tế nhãn hiệu được tính theo quy định của Nghị định thư và Thỏa ước Madrid.
9. Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp theo Thỏa ước La Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp có chỉ định Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ra quyết định chấp nhận bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp trong đăng ký quốc tế đó hoặc kể từ ngày tiếp theo ngày kết thúc thời hạn sáu tháng tính từ ngày Văn phòng quốc tế công bố đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp đó, tính theo thời điểm nào sớm hơn. Thời hạn hiệu lực của đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp được tính theo quy định của Thỏa ước La Hay.”.
30. Sửa đổi, bổ sung Điều 95 Điều 96 như sau:
“Điều 95. Chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ
1. Văn bằng bảo hộ bị chấm dứt toàn bộ hoặc một phần hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Chủ văn bằng bảo hộ không nộp phí, lệ phí để duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định;
b) Chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp;
c) Chủ văn bằng bảo hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp;
d) Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực;
đ) Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể;
e) Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát, kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận;
g) Các điều kiện địa lý tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó;
h) Việc sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ bởi chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về bản chất, chất lượng hoặc nguồn gốc địa lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đó;
i) Nhãn hiệu được bảo hộ trở thành tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ đăng ký cho chính nhãn hiệu đó;
k) Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài không còn được bảo hộ tại nước xuất xứ.
2. Trong trường hợp chủ Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích không nộp phí, lệ phí để duy trì hiệu lực trong thời hạn quy định thì khi kết thúc thời hạn đó, hiệu lực văn bằng bảo hộ tự động chấm dứt kể từ ngày bắt đầu năm hiệu lực đầu tiên mà phí, lệ phí để duy trì hiệu lực không được nộp.
Trong trường hợp chủ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp không nộp phí, lệ phí để gia hạn hiệu lực trong thời hạn quy định thì khi kết thúc thời hạn đó, hiệu lực văn bằng bảo hộ tự động chấm dứt kể từ ngày bắt đầu kỳ hiệu lực tiếp theo mà phí, lệ phí để gia hạn hiệu lực không được nộp.
Cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ghi nhận việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp.
3. Trong trường hợp chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp xem xét, quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ.
4. Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ, e, g, h, i và k khoản 1 Điều này với điều kiện phải nộp phí, lệ phí.
5. Căn cứ kết quả xem xét đơn yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này, ý kiến của các bên liên quan, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thông báo từ chối chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ hoặc quyết định chấm dứt toàn bộ hoặc một phần hiệu lực văn bằng bảo hộ.
6. Đối với trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều này, hiệu lực văn bằng bảo hộ bị chấm dứt kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ban hành quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ.
Đối với trường hợp quy định tại điểm k khoản 1 Điều này, hiệu lực văn bằng bảo hộ bị chấm dứt kể từ ngày chỉ dẫn địa lý không còn được bảo hộ tại nước xuất xứ.
Đối với trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ra quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ theo quy định tại khoản 3 Điều này, hiệu lực văn bằng bảo hộ bị chấm dứt kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp nhận được tuyên bố bằng văn bản của chủ văn bằng bảo hộ.
7. Quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này cũng được áp dụng đối với việc chấm dứt hiệu lực đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp.
Điều 96. Hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ
1. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;
b) Đơn đăng ký sáng chế được nộp trái với quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế quy định tại Điều 89a của Luật này;
c) Đơn đăng ký sáng chế đối với sáng chế được trực tiếp tạo ra dựa trên nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen nhưng không bộc lộ hoặc bộc lộ không chính xác về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen có trong đơn đó.
2. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần hiệu lực nếu toàn bộ hoặc một phần văn bằng bảo hộ đó không đáp ứng quy định của Luật này về quyền đăng ký, điều kiện bảo hộ, sửa đổi, bổ sung đơn, bộc lộ sáng chế, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong các trường hợp sau đây:
a) Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được người có quyền đăng ký chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu;
b) Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ quy định tại Điều 8 và Chương VII của Luật này;
c) Việc sửa đổi, bổ sung đơn đăng ký sở hữu công nghiệp làm mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu trong đơn hoặc làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu trong đơn;
d) Sáng chế không được bộc lộ đầy đủ và rõ ràng đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó;
đ) Sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ vượt quá phạm vi bộc lộ trong bản mô tả ban đầu của đơn đăng ký sáng chế;
e) Sáng chế không đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên quy định tại Điều 90 của Luật này.
3. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần hiệu lực quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì toàn bộ hoặc một phần bị hủy bỏ của văn bằng bảo hộ đó không phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm cấp văn bằng.
4. Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này với điều kiện phải nộp phí, lệ phí.
Thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ là suốt thời hạn bảo hộ, trừ trường hợp yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu vì lý do quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hiệu là năm năm kể từ ngày cấp văn bằng bảo hộ hoặc từ ngày đăng ký quốc tế nhãn hiệu có hiệu lực tại Việt Nam.
5. Căn cứ kết quả xem xét đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ và ý kiến của các bên liên quan, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp quyết định hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ hoặc thông báo từ chối hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ.
6. Quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này cũng được áp dụng đối với việc hủy bỏ hiệu lực đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp.
7. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
31. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 khoản 2 Điều 97 như sau:
“1. Chủ văn bằng bảo hộ, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý theo quy định tại Điều 88 của Luật này có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp sửa đổi những thông tin sau đây trên văn bằng bảo hộ với điều kiện phải nộp phí, lệ phí:
a) Thay đổi, sửa chữa thiếu sót liên quan đến tên và quốc tịch của tác giả, tên và địa chỉ của chủ văn bằng bảo hộ, tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý;
b) Sửa đổi bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù, khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý; sửa đổi quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.
2. Theo yêu cầu của chủ văn bằng bảo hộ, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp có trách nhiệm sửa chữa thiếu sót trong văn bằng bảo hộ do lỗi của cơ quan đó. Trong trường hợp này, chủ văn bằng bảo hộ, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không phải nộp phí, lệ phí.”.
32. Bổ sung điểm đ1 vào sau điểm đ khoản 1 Điều 100 như sau:
“đ1) Tài liệu thuyết minh về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen trong đơn đăng ký sáng chế, đối với sáng chế được trực tiếp tạo ra dựa trên nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen;”.
33. Sửa đổi, bổ sung Điều 103 như sau:
“Điều 103. Yêu cầu đối với đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp
1. Tài liệu xác định kiểu dáng công nghiệp cần bảo hộ trong đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp gồm bộ ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp và bản mô tả kiểu dáng công nghiệp được thể hiện trong bộ ảnh chụp, bản vẽ.
2. Bộ ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp phải thể hiện đầy đủ các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ đến mức căn cứ vào đó, người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng có thể xác định được kiểu dáng công nghiệp đó.
3. Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp được thể hiện trong bộ ảnh chụp, bản vẽ phải liệt kê thứ tự các ảnh chụp, bản vẽ trong bộ ảnh chụp, bản vẽ và các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp.”.
34. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 105 như sau:
“2. Mẫu nhãn hiệu phải được mô tả để làm rõ các yếu tố cấu thành của nhãn hiệu và ý nghĩa tổng thể của nhãn hiệu (nếu có); nếu nhãn hiệu có từ, ngữ thuộc ngôn ngữ tượng hình thì từ, ngữ đó phải được phiên âm; nếu nhãn hiệu có từ, ngữ bằng ngôn ngữ khác tiếng Việt thì phải được dịch ra tiếng Việt; nếu nhãn hiệu là âm thanh thì mẫu nhãn hiệu phải là tệp âm thanh và bản thể hiện dưới dạng đồ họa của âm thanh đó.”.
35. Bổ sung điểm e vào sau điểm đ khoản 1 Điều 106 như sau:
“e) Đối với chỉ dẫn địa lý đồng âm, tài liệu thuyết minh về điều kiện sử dụng và cách thức trình bày chỉ dẫn địa lý để bảo đảm khả năng phân biệt giữa các chỉ dẫn địa lý.”.
36. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 108 như sau:
“3. Đơn đăng ký đối với sáng chế mật được thực hiện theo quy định của Chính phủ”
37. Sửa đổi, bổ sung điểm đ và bổ sung điểm e vào sau điểm đ khoản 2 Điều 109 như sau:
“đ) Người nộp đơn không nộp đủ phí, lệ phí theo quy định;
e) Đơn đăng ký sáng chế được nộp trái với quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế quy định tại Điều 89a của Luật này.”.
38. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 110 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:
“Điều 110. Công khai đơn đăng ký nhãn hiệu, công bố đơn đăng ký sở hữu công nghiệp”;
b) Bổ sung khoản 1a vào trước khoản 1 như sau:
“1a. Đơn đăng ký nhãn hiệu chưa được cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp chấp nhận hợp lệ được công khai ngay sau khi được tiếp nhận.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, đơn đăng ký nhãn hiệu, đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được công bố trong thời hạn hai tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ. Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có thể được công bố vào thời điểm muộn hơn theo yêu cầu của người nộp đơn tại thời điểm nộp đơn nhưng không quá bảy tháng kể từ ngày nộp đơn.”.
39. Sửa đổi, bổ sung Điều 112 và bổ sung Điều 112a vào sau Điều 112 như sau:
“Điều 112. Ý kiến của người thứ ba về việc cấp văn bằng bảo hộ
Kể từ ngày đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp đến trước ngày ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền có ý kiến với cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp về việc cấp hoặc không cấp văn bằng bảo hộ đối với đơn đó. Ý kiến phải được lập thành văn bản kèm theo tài liệu hoặc trích dẫn nguồn thông tin để chứng minh.
Văn bản nêu ý kiến của người thứ ba được coi là một nguồn thông tin tham khảo cho quá trình xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.
Điều 112a. Phản đối đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Trước ngày ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ, trong các thời hạn sau đây, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ:
a) Chín tháng kể từ ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố;
b) Bốn tháng kể từ ngày đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố;
c) Năm tháng kể từ ngày đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố;
d) Ba tháng kể từ ngày đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được công bố.
2. Ý kiến phản đối quy định tại khoản 1 Điều này phải được lập thành văn bản kèm theo tài liệu hoặc trích dẫn nguồn thông tin để chứng minh và phải nộp phí, lệ phí.
3. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp có trách nhiệm xử lý ý kiến phản đối quy định tại khoản 2 Điều này theo trình tự, thủ tục do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định.”.
40. Bổ sung khoản 3 và khoản 4 vào sau khoản 2 Điều 114 như sau:
“3. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp có thể sử dụng kết quả thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế trùng với sáng chế được yêu cầu bảo hộ do cơ quan sáng chế nước ngoài thực hiện trong quá trình đánh giá khả năng bảo hộ.
4. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết việc sử dụng kết quả thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế quy định tại khoản 3 Điều này.”.
41. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 116 như sau:
“2. Từ thời điểm người nộp đơn tuyên bố rút đơn, mọi thủ tục tiếp theo liên quan đến đơn đó bị chấm dứt.”.
42. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 117 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 như sau:
“1. Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
a) Có cơ sở để khẳng định rằng đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ;
b) Có cơ sở để khẳng định rằng người nộp đơn không có quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;
c) Đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ nhưng không phải là đơn có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 90 của Luật này;
d) Đơn thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 90 của Luật này mà không được sự thống nhất của tất cả những người nộp đơn;
đ) Việc sửa đổi, bổ sung đơn làm mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu trong đơn hoặc làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu trong đơn.
1a. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, đơn đăng ký sáng chế bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
a) Sáng chế được yêu cầu bảo hộ vượt quá phạm vi bộc lộ trong bản mô tả ban đầu của đơn đăng ký sáng chế;
b) Sáng chế không được bộc lộ đầy đủ và rõ ràng trong bản mô tả sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó;
c) Đối với sáng chế được trực tiếp tạo ra dựa trên nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen, đơn đăng ký sáng chế không bộc lộ hoặc bộc lộ không chính xác về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen;
d) Đơn đăng ký sáng chế được nộp trái với quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế quy định tại Điều 89a của Luật này.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 1a và 2 Điều này thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Thông báo kết quả thẩm định nội dung, trong đó nêu rõ dự định từ chối cấp văn bằng bảo hộ, lý do và ấn định thời hạn để người nộp đơn có ý kiến phản đối dự định từ chối;
b) Tạm dừng quy trình thẩm định đơn trong trường hợp người nộp đơn nộp đề nghị tạm dừng thẩm định đơn và yêu cầu chấm dứt hiệu lực hoặc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu theo trường hợp loại trừ được quy định tại điểm e và điểm h khoản 2 Điều 74 của Luật này. Căn cứ kết quả giải quyết yêu cầu chấm dứt hiệu lực hoặc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp tiếp tục quy trình thẩm định đơn;
c) Tạm dừng quy trình thẩm định đơn trong trường hợp nhận được bản sao thông báo thụ lý vụ án của Tòa án có thẩm quyền về việc người thứ ba khởi kiện liên quan đến quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc nhãn hiệu được đăng ký với dụng ý xấu. Căn cứ kết quả giải quyết của Tòa án, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp tiếp tục quy trình thẩm định đơn;
d) Quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ nếu người nộp đơn không có ý kiến phản đối hoặc ý kiến phản đối không xác đáng về dự định từ chối quy định tại điểm a khoản này.”.
43. Sửa đổi, bổ sung Điều 118 như sau:
“Điều 118. Cấp văn bằng bảo hộ, đăng bạ
1. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp không thuộc trường hợp từ chối cấp văn bằng bảo hộ quy định tại các khoản 1, 1a và 2, điểm d khoản 3 Điều 117 của Luật này hoặc người nộp đơn có ý kiến xác đáng phản đối về dự định từ chối quy định tại điểm a khoản 3 Điều 117 của Luật này thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thực hiện các công việc sau đây:
a) Thông báo kết quả thẩm định nội dung, trong đó nêu rõ dự định cấp văn bằng bảo hộ đối với toàn bộ hoặc phần đáp ứng điều kiện bảo hộ và ấn định thời hạn để người nộp đơn nộp phí, lệ phí hoặc có ý kiến phản đối về kết quả thẩm định nội dung;
b) Quyết định cấp văn bằng bảo hộ và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp nếu người nộp đơn nộp phí, lệ phí.
2. Trong trường hợp có ý kiến phản đối về kết quả thẩm định nội dung, đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tương ứng được thẩm định lại về những vấn đề bị phản đối.”.
44. Bổ sung Điều 119a vào sau Điều 119 trong Mục 3 Chương VIII như sau:
“Điều 119a. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại liên quan đến các thủ tục về sở hữu công nghiệp
1. Người nộp đơn và tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định hoặc thông báo liên quan đến việc xử lý đơn đăng ký xác lập quyền, duy trì, gia hạn, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp, đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ban hành có quyền khiếu nại với cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn khiếu nại trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam. Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn khiếu nại thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
3. Nội dung khiếu nại phải được thể hiện bằng đơn khiếu nại, trong đó phải nêu rõ họ và tên, địa chỉ của người khiếu nại; số, ngày ký, nội dung quyết định hoặc thông báo bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lập luận, dẫn chứng chứng minh cho khiếu nại; đề nghị cụ thể về việc sửa chữa hoặc hủy bỏ quyết định hoặc thông báo liên quan. Đơn khiếu nại được nộp dưới hình thức văn bản giấy hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn trực tuyến.
4. Trong trường hợp khiếu nại liên quan đến quyền đăng ký hoặc các nội dung khác cần thẩm định lại, người khiếu nại phải nộp phí thẩm định lại.
5. Thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trong trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thẩm định lại đối với các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này hoặc người khiếu nại sửa đổi, bổ sung hồ sơ khiếu nại, thời gian thẩm định lại, thời gian sửa đổi, bổ sung hồ sơ khiếu nại không tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Thời hạn thẩm định lại được áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này.
6. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại không quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.”.
45. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 121 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Chủ sở hữu sáng chế, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng.
Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp hoặc có kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước.
Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường. Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.
Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý.”.
46. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 123 như sau:
“2. Tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng, tổ chức được trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này hoặc theo pháp luật của nước xuất xứ của chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý đó theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.”.
47. Sửa đổi, bổ sung Điểm b Khoản 5 Điều 124 như sau:
“b) Bán, chào bán, quảng cáo để bán, trưng bày để bán, tàng trữ để bán, vận chuyển hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;”.
48. Sửa đổi, bổ sung Điểm b Khoản 2 Điều 125 như sau:
“b) Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm do chủ sở hữu, người được chuyển giao quyền sử dụng, kể cả chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc, người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của Luật này đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài;”.
49. Sửa đổi, bổ sung Điều 128 như sau:
“Điều 128. Nghĩa vụ bảo hộ dữ liệu thử nghiệm
1. Trong trường hợp pháp luật có quy định người nộp đơn xin cấp phép lưu hành dược phẩm, nông hóa phẩm phải cung cấp kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu nào khác là bí mật kinh doanh thu được do đầu tư công sức đáng kể và người nộp đơn có yêu cầu giữ bí mật các thông tin đó thì cơ quan có thẩm quyền cấp phép có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp cần thiết để các dữ liệu đó không bị sử dụng nhằm mục đích thương mại không lành mạnh và không bị bộc lộ, trừ trường hợp việc bộc lộ là cần thiết nhằm bảo vệ công chúng.
2. Đối với dược phẩm, kể từ khi dữ liệu bí mật trong đơn xin cấp phép được nộp cho cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này đến hết thời hạn năm năm tính từ ngày người nộp đơn được cấp phép, cơ quan đó không được cấp phép cho bất kỳ người nào nộp đơn muộn hơn nếu trong đơn sử dụng dữ liệu bí mật nêu trên mà không được sự đồng ý của người nộp dữ liệu đó, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều 125 của Luật này.
3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành dược phẩm cho phép người nộp đơn sau dựa vào việc một dược phẩm đã được cấp phép lưu hành hoặc dữ liệu chứng minh tính an toàn, hiệu quả của một dược phẩm đã được cấp phép lưu hành để xin cấp phép lưu hành cho một dược phẩm khác thì cơ quan có thẩm quyền cấp phép phải công bố trên cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền đó về thông tin của đơn nộp sau trong thời hạn năm tháng trước khi dược phẩm trong đơn nộp sau được cấp phép lưu hành, trừ trường hợp việc cấp phép lưu hành cần được thực hiện sớm hơn theo quy định của luật khác có liên quan.
4. Đối với nông hóa phẩm, kể từ khi dữ liệu bí mật trong đơn xin cấp phép được nộp cho cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này đến hết thời hạn mười năm tính từ ngày người nộp đơn được cấp phép, cơ quan đó không được cấp phép cho người nộp đơn muộn hơn nếu trong đơn sử dụng dữ liệu bí mật nêu trên hoặc dựa vào việc người nộp dữ liệu bí mật nêu trên được cấp phép lưu hành mà không được sự đồng ý của người nộp dữ liệu đó, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều 125 của Luật này hoặc việc cấp phép là cần thiết để bảo đảm quốc phòng, an ninh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thiết khác của xã hội.”.
50. Sửa đổi, bổ sung Điểm d Khoản 1 Điều 130 như sau:
“d) Chiếm hữu, sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng với dụng ý xấu, lợi dụng uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng nhằm thu lợi bất chính.”.
51. Bổ sung Điều 131a vào sau Điều 131 trong Mục 1 Chương IX Phần thứ ba như sau:
“Điều 131a. Đền bù cho chủ sở hữu sáng chế vì sự chậm trễ trong việc cấp phép lưu hành dược phẩm
''1. Khi thực hiện thủ tục duy trì hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế, chủ Bằng độc quyền sáng chế không phải nộp phí sử dụng văn bằng bảo hộ cho khoảng thời gian mà thủ tục đăng ký lưu hành lần đầu của dược phẩm được sản xuất theo Bằng độc quyền sáng chế đó tại Việt Nam bị chậm.
2. Thủ tục đăng ký lưu hành dược phẩm bị xem là chậm nếu kết thúc thời hạn hai năm, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký lưu hành mà cơ quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành dược phẩm không có văn bản phản hồi lần đầu đối với hồ sơ. Khoảng thời gian bị chậm được tính từ ngày đầu tiên sau khi kết thúc hai năm kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành dược phẩm nhận đủ hồ sơ đến khi có văn bản phản hồi lần đầu.
3. Thời gian chậm do lỗi của người nộp đơn hoặc do nguyên nhân nằm ngoài kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không tính vào các khoảng thời gian quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp chủ Bằng độc quyền sáng chế đã nộp phí sử dụng văn bằng bảo hộ cho khoảng thời gian bị xem là chậm, số phí đã nộp sẽ được trừ vào kỳ duy trì hiệu lực tiếp theo hoặc hoàn trả.
5. Để không phải nộp phí sử dụng văn bằng bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày dược phẩm được cấp phép lưu hành, chủ Bằng độc quyền sáng chế phải nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành dược phẩm xác nhận về việc thủ tục đăng ký lưu hành dược phẩm đó bị chậm.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
52. Bổ sung Điều 133a vào sau Điều 133 như sau:
“Điều 133a. Quyền của Nhà nước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
1. Đại diện chủ sở hữu nhà nước thông báo công khai trong thời hạn chín mươi ngày để giao quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu trong các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ không thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 136a của Luật này;
b) Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ có văn bản báo cáo đại diện chủ sở hữu nhà nước về việc không có nhu cầu đăng ký;
c) Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ không nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 136a của Luật này.
2. Trường hợp không giao được quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều này, đại diện chủ sở hữu nhà nước công bố công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ về nội dung sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước mà không cần sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Người nắm độc quyền sử dụng không thực hiện trong một thời gian hợp lý các biện pháp hiệu quả để sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà Nhà nước hỗ trợ trên 30% tổng số vốn;
b) Việc sử dụng nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, bảo đảm dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội.
4. Việc trả khoản tiền đền bù cho người nắm độc quyền sử dụng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí theo quy định tại khoản 3 Điều này được thực hiện như sau:
a) Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước, tổ chức, cá nhân được phép sử dụng không phải trả tiền đền bù;
b) Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có một phần ngân sách nhà nước, tổ chức, cá nhân được phép sử dụng không phải trả tiền đền bù cho phần quyền sử dụng tương ứng với phần ngân sách nhà nước đầu tư nhưng phải trả tiền đền bù đối với phần quyền sử dụng tương ứng với phần vốn đầu tư còn lại. Khoản tiền đền bù trả cho người nắm độc quyền sử dụng được xác định theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 146 của Luật này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
53. Sửa đổi, bổ sung Điều 135 như sau:
“Điều 135. Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả theo thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì mức thù lao trả cho tác giả quy định như sau:
a) 10% lợi nhuận trước thuế mà chủ sở hữu thu được do sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
b) 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí trước khi nộp thuế theo quy định.
2. Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, chủ sở hữu trả thù lao cho tác giả theo quy định sau đây:
a) Tối thiểu 10% và tối đa 15% lợi nhuận trước thuế mà chủ sở hữu thu được do sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
b) Tối thiểu 15% và tối đa 20% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí trước khi nộp thuế theo quy định.
3. Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có đồng tác giả, mức thù lao quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là mức dành cho các đồng tác giả. Các đồng tác giả tự thỏa thuận việc phân chia số tiền thù lao do chủ sở hữu chi trả.
4. Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tồn tại trong suốt thời hạn bảo hộ của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.”.
54. Bổ sung Điều 136a vào sau Điều 136 như sau:
“Điều 136a. Nghĩa vụ của tổ chức chủ trì đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
1. Thông báo cho đại diện chủ sở hữu nhà nước trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được tạo ra.
2. Nộp đơn đăng ký xác lập quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước tại Việt Nam trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày gửi thông báo cho đại diện chủ sở hữu nhà nước.
3. Trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí theo quy định tại Điều 135 của Luật này.
4. Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà Nhà nước hỗ trợ đến 30% tổng số vốn, phần lợi nhuận sau thuế thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền, góp vốn bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ góp vốn của Nhà nước sau khi đã trả thù lao cho tác giả được sử dụng theo quy chế quản lý tài chính của tổ chức chủ trì.
5. Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà Nhà nước hỗ trợ trên 30% tổng số vốn, việc phân chia lợi nhuận sau thuế thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền, góp vốn bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước sau khi đã trả thù lao cho tác giả được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Thanh toán cho người môi giới (nếu có) theo hợp đồng môi giới nhưng không quá 10%;
b) Trường hợp nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước thì tối thiểu 50% phần lợi nhuận còn lại được dùng để đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ; số lợi nhuận còn lại được sử dụng theo quy chế quản lý tài chính của tổ chức chủ trì;
c) Trường hợp nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn thì phần lợi nhuận còn lại được chia cho các bên tương ứng với tỷ lệ vốn đã đóng góp vào nhiệm vụ khoa học và công nghệ đó. Phần lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ góp vốn của Nhà nước được tổ chức chủ trì sử dụng theo quy định tại điểm b khoản này.
6. Tổ chức chủ trì được cấp văn bằng bảo hộ cho sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được đăng ký theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 86a của Luật này có nghĩa vụ thực hiện các quyền sở hữu công nghiệp theo quy định, thực hiện các biện pháp bảo vệ, nộp báo cáo hằng năm cho cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ về việc thực hiện quyền, biện pháp bảo vệ và việc phân chia lợi nhuận.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
55. Bổ sung khoản 6 vào sau khoản 5 Điều 139 như sau:
“6. Quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, cá nhân là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam. Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sở hữu phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng của tổ chức chủ trì theo quy định của Luật này.”.
56. Bổ sung điểm đ vào sau điểm d khoản 1 Điều 145 như sau:
“đ) Việc sử dụng sáng chế nhằm đáp ứng nhu cầu về dược phẩm để phòng bệnh, chữa bệnh của quốc gia khác có đủ điều kiện nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”.
57. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của khoản 1 Điều 146 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm b như sau:
“b) Quyền sử dụng được chuyển giao chỉ được giới hạn trong phạm vi và thời hạn đủ để đáp ứng mục tiêu chuyển giao, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 145 của Luật này. Đối với sáng chế trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn thì việc chuyển giao quyền sử dụng chỉ nhằm mục đích công cộng, phi thương mại hoặc nhằm xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm d và bổ sung điểm đ vào sau điểm d như sau:
“d) Người được chuyển giao quyền sử dụng phải trả cho người nắm độc quyền sử dụng sáng chế khoản tiền đền bù theo thỏa thuận, trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc để nhập khẩu dược phẩm theo cơ chế của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và khoản tiền đền bù cho việc sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc đã được trả tại nước xuất khẩu;
đ) Quyền sử dụng được chuyển giao chủ yếu để cung cấp cho thị trường trong nước, trừ trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 145 của Luật này.”.
58. Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 147 như sau:
“1. Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trên cơ sở xem xét yêu cầu được chuyển giao quyền sử dụng đối với trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 145 của Luật này.
Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình trong trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 145 của Luật này trên cơ sở tham khảo ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ.”.
59. Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 153 như sau:
“1. Đại diện sở hữu công nghiệp có trách nhiệm sau đây:
a) Thông báo các khoản, mức phí, lệ phí liên quan đến thủ tục xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp cho khách hàng;
b) Giữ bí mật thông tin, tài liệu được giao liên quan đến vụ việc mà mình đại diện;
c) Thông tin trung thực và đầy đủ các thông báo, yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp; giao kịp thời văn bằng bảo hộ và các quyết định khác cho bên được đại diện;
d) Thực hiện kịp thời các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với bên được đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên được đại diện;
đ) Thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp các thay đổi về tên, địa chỉ và thông tin khác của bên được đại diện khi cần thiết.”.
60. Sửa đổi, bổ sung Điều 154 như sau:
“Điều 154. Điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp
1. Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật có ít nhất một cá nhân có Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp với danh nghĩa tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.”.
61. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 Điều 155 như sau:
“2. Cá nhân đáp ứng các điều kiện sau đây thì được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2a Điều này:
a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Thường trú tại Việt Nam;
c) Có bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương đối với trường hợp hành nghề trong lĩnh vực nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh, bí mật kinh doanh; có bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương chuyên ngành khoa học tự nhiên hoặc khoa học kỹ thuật đối với trường hợp hành nghề trong lĩnh vực sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
d) Đã trực tiếp làm công tác pháp luật về sở hữu công nghiệp từ năm năm trở lên hoặc đã trực tiếp làm công tác thẩm định các loại đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tại cơ quan quốc gia hoặc quốc tế về sở hữu công nghiệp từ năm năm trở lên hoặc đã tốt nghiệp khóa đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận;
đ) Không phải là công chức, viên chức, người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp;
e) Đã đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp do cơ quan có thẩm quyền tổ chức.
2a. Công dân Việt Nam là luật sư được phép hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, thường trú tại Việt Nam thì được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp trong lĩnh vực nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh, bí mật kinh doanh nếu đã tốt nghiệp khóa đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận.”.
62. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 156 như sau:
“2. Trường hợp đại diện sở hữu công nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện kinh doanh, hành nghề quy định tại Điều 154 và Điều 155 của Luật này, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thu hồi Chứng chỉ hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp, xóa tên đại diện sở hữu công nghiệp trong sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp.”.
63. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 157 như sau:
“2. Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài là công dân quốc gia thành viên Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới hoặc quốc gia có ký kết với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ giống cây trồng; cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam; tổ chức nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân thường trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng trên lãnh thổ của quốc gia thành viên Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới.”.
64. Sửa đổi, bổ sung Điều 158 như sau:
“Điều 158. Điều kiện chung đối với giống cây trồng được bảo hộ
Giống cây trồng được bảo hộ là giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp.”.
65. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 163 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Tổ chức, cá nhân đăng ký quyền đối với giống cây trồng phải đề xuất một tên phù hợp cho giống cây trồng với cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng, tên đó phải trùng với tên đã đăng ký bảo hộ ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới và quốc gia có ký kết thỏa thuận với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo hộ giống cây trồng.”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 như sau:
“a) Chỉ bao gồm các chữ số, trừ trường hợp chữ số liên quan đến đặc tính hoặc sự hình thành giống đó hoặc bao gồm cả tên loài của giống cây trồng đó;”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 3 như sau:
“c) Dễ gây hiểu nhầm về các đặc trưng, đặc tính, giá trị của giống đó;”;
d) Bổ sung khoản 6 vào sau khoản 5 như sau:
“6. Trường hợp tên giống cây trồng đăng ký bảo hộ không phù hợp với các yêu cầu quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng từ chối tên đó và yêu cầu người đăng ký đề xuất tên khác trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ban hành thông báo. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng ghi nhận tên chính thức của giống cây trồng từ thời điểm cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng.”.
66. Sửa đổi, bổ sung Điều 164 Điều 165 như sau:
“Điều 164. Đăng ký quyền đối với giống cây trồng
1. Để được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng, tổ chức, cá nhân phải thực hiện việc nộp đơn đăng ký bảo hộ cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng.
2. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký bảo hộ giống cây trồng (sau đây gọi là người đăng ký) bao gồm:
a) Tác giả trực tiếp chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng bằng công sức và chi phí của mình;
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư cho tác giả chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này;
c) Tổ chức, cá nhân được chuyển giao, thừa kế, kế thừa quyền đăng ký bảo hộ giống cây trồng.
3. Đối với giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước, quyền đăng ký giống cây trồng được giao cho tổ chức chủ trì nhiệm vụ đó một cách tự động và không bồi hoàn.
4. Đối với giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có một phần ngân sách nhà nước, phần quyền đăng ký đối với giống cây trồng tương ứng với tỷ lệ phần ngân sách nhà nước được giao cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn.
Điều 165. Đại diện quyền đối với giống cây trồng
1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam nộp đơn đăng ký quyền đối với giống cây trồng trực tiếp hoặc qua tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng; các tổ chức, cá nhân khác theo quy định tại Điều 157 của Luật này nộp đơn qua tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.
2. Tổ chức đáp ứng các điều kiện sau đây được kinh doanh dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng với danh nghĩa tổ chức dịch vụ đại diện quyền:
a) Là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam;
b) Có ít nhất một cá nhân có Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.
3. Dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng bao gồm: đại diện cho tổ chức, cá nhân trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng; tư vấn về thủ tục xác lập và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng; các dịch vụ khác liên quan đến thủ tục xác lập và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng.
4. Đại diện quyền đối với giống cây trồng có trách nhiệm sau đây:
a) Thông báo các khoản, mức phí, lệ phí liên quan đến thủ tục xác lập và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng cho khách hàng;
b) Giữ bí mật thông tin, tài liệu được giao liên quan đến vụ việc mà mình đại diện;
c) Thông tin trung thực và đầy đủ các thông báo, yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng; giao kịp thời Bằng bảo hộ giống cây trồng và các quyết định khác cho bên được đại diện;
d) Thực hiện kịp thời các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng đối với bên được đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên được đại diện;
đ) Thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng các thay đổi về tên, địa chỉ và thông tin khác của bên được đại diện; thông tin thay đổi về tên, địa chỉ, người đại diện của bên đại diện;
e) Tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người thực hiện hoạt động đại diện quyền đối với giống cây trồng nhân danh tổ chức.
5. Cá nhân được phép hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng;
b) Hoạt động trong một tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.
6. Cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Thường trú tại Việt Nam;
c) Có bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương;
d) Đã trực tiếp làm công tác pháp luật về quyền đối với giống cây trồng từ năm năm trở lên hoặc đã trực tiếp làm công tác thẩm định đơn đăng ký quyền đối với giống cây trồng tại cơ quan quốc gia hoặc quốc tế về quyền đối với giống cây trồng từ năm năm trở lên hoặc đã tốt nghiệp khóa đào tạo pháp luật về quyền đối với giống cây trồng được cơ quan có thẩm quyền công nhận;
đ) Không phải là công chức, viên chức, người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền đối với giống cây trồng;
e) Đã đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về nghiệp vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng do cơ quan có thẩm quyền tổ chức.
7. Chính phủ quy định chi tiết chương trình đào tạo pháp luật về quyền đối với giống cây trồng, việc kiểm tra nghiệp vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng, cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.”.
67. Bổ sung khoản 6 vào sau khoản 5 Điều 170 như sau:
“6. Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục đình chỉ, phục hồi, hủy bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng.”.
68. Sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 1 Điều 171 như sau:
“a) Đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng do người không có quyền đăng ký thực hiện việc đăng ký;”.
69. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 172 như sau:
“3. Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục sửa đổi, cấp lại Bằng bảo hộ giống cây trồng.”.
70. Sửa đổi, bổ sung Điểm d Khoản 3 Điều 176 như sau:
“d) Thông báo chấp nhận đơn nếu đơn này hợp lệ hoặc người đăng ký khắc phục thiếu sót đạt yêu cầu hoặc có ý kiến xác đáng phản đối thông báo quy định tại điểm b khoản này, trong đó yêu cầu người đăng ký gửi mẫu giống đến cơ sở khảo nghiệm để tiến hành khảo nghiệm kỹ thuật trong thời hạn ba mươi ngày trước thời vụ gieo trồng đầu tiên kể từ ngày ban hành thông báo chấp nhận đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng đó, trừ trường hợp giống cây trồng do người đăng ký tự khảo nghiệm theo quy định tại khoản 2 Điều 178 của Luật này.”.
71. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 180 như sau:
“2. Từ thời điểm người đăng ký rút đơn đăng ký bảo hộ, mọi thủ tục tiếp theo liên quan đến đơn đó bị chấm dứt.”.
72. Sửa đổi, bổ sung Điều 183 như sau:
“Điều 183. Cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng
Trong trường hợp đơn đăng ký bảo hộ không bị từ chối theo quy định tại Điều 182 của Luật này và người đăng ký nộp lệ phí thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ.
Người đăng ký quyền đối với giống cây trồng theo quy định tại Điều 164 của Luật này và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng là chủ sở hữu quyền đối với giống cây trồng.”.
73. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 189 như sau:
“2. Trong trường hợp người đăng ký biết giống cây trồng đăng ký bảo hộ đã được người khác thực hiện các hành vi quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Luật này thì từ thời điểm đơn được công bố chấp nhận hợp lệ, người đăng ký bảo hộ giống cây trồng có quyền thông báo bằng văn bản cho người sử dụng về việc đã nộp đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng, trong đó ghi rõ ngày nộp đơn và ngày đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng được chấp nhận hợp lệ để người đó chấm dứt việc sử dụng giống cây trồng hoặc tiếp tục sử dụng.”.
74. Sửa đổi, bổ sung Điều 191 và bổ sung Điều 191a, 191b vào sau Điều 191 trong Mục 2 Chương XIV Phần thứ tư như sau:
“Điều 191. Nghĩa vụ của chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng
1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả giống cây trồng theo thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì mức thù lao trả cho tác giả quy định như sau:
a) 10% lợi nhuận trước thuế mà chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng thu được do sử dụng giống cây trồng được bảo hộ để sản xuất, kinh doanh;
b) 15% tổng số tiền mà chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng trước khi nộp thuế theo quy định;
c) 35% tổng số tiền mà chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng nhận được từ việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng trong lần đầu tiên trước khi nộp thuế theo quy định và không được nhận thù lao đối với lần chuyển nhượng tiếp theo và thù lao theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
2. Đối với giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng trả thù lao cho tác giả theo quy định sau đây:
a) Tối thiểu 10% và tối đa 15% lợi nhuận trước thuế mà chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng thu được do sử dụng giống cây trồng được bảo hộ để sản xuất, kinh doanh;
b) Tối thiểu 15% và tối đa 20% tổng số tiền mà chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng trước khi nộp thuế theo quy định;
c) Tối thiểu 20% và tối đa 35% tổng số tiền mà chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng nhận được từ việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng trong lần đầu tiên trước khi nộp thuế theo quy định và không được nhận thù lao đối với lần chuyển nhượng tiếp theo và thù lao theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
3. Trong trường hợp giống cây trồng có đồng tác giả, mức thù lao quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là mức dành cho các đồng tác giả; các đồng tác giả tự thỏa thuận việc phân chia số tiền thù lao do chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng chi trả.
4. Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả tồn tại trong suốt thời hạn bảo hộ giống cây trồng.
5. Nộp lệ phí duy trì hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng cho cơ quan bảo hộ giống cây trồng trong thời hạn ba tháng sau ngày cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng đối với năm hiệu lực đầu tiên và trong tháng đầu tiên của năm hiệu lực tiếp theo đối với các năm sau.
6. Lưu giữ giống cây trồng được bảo hộ, cung cấp thông tin, vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ theo yêu cầu của cơ quan bảo hộ giống cây trồng; duy trì tính ổn định của giống cây trồng được bảo hộ theo tính trạng mô tả tại thời điểm cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng.
Điều 191a. Nghĩa vụ của tổ chức chủ trì đối với giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
1. Nộp đơn đăng ký quyền đối với giống cây trồng trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu.
2. Trả thù lao cho tác giả giống cây trồng theo quy định tại Điều 191 của Luật này.
3. Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà Nhà nước hỗ trợ đến 30% tổng số vốn, phần lợi nhuận sau thuế thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền, góp vốn từ giống cây trồng tương ứng với tỷ lệ góp vốn của Nhà nước sau khi đã trả thù lao cho tác giả được sử dụng theo quy chế quản lý tài chính của tổ chức chủ trì.
4. Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà Nhà nước hỗ trợ trên 30% tổng số vốn, việc phân chia lợi nhuận sau thuế thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền, góp vốn từ giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước sau khi đã trả thù lao cho tác giả thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước thì tối thiểu 50% phần lợi nhuận còn lại được dùng để đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ; số lợi nhuận còn lại được sử dụng theo quy chế quản lý tài chính của tổ chức chủ trì;
b) Trường hợp nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn thì phần lợi nhuận còn lại được chia cho các bên tương ứng với tỷ lệ vốn đã đóng góp vào nhiệm vụ khoa học và công nghệ đó. Phần lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ góp vốn của Nhà nước được tổ chức chủ trì sử dụng theo quy định tại điểm a khoản này.
5. Tổ chức chủ trì được cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng được đăng ký theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 164 của Luật này có nghĩa vụ thực hiện các quyền đối với giống cây trồng theo quy định, thực hiện các biện pháp bảo vệ, nộp báo cáo hằng năm cho cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ về việc thực hiện quyền, biện pháp bảo vệ và việc phân chia lợi nhuận.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
Điều 191b. Quyền của Nhà nước đối với giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
1. Đại diện chủ sở hữu nhà nước thông báo công khai trong thời hạn chín mươi ngày để giao quyền đăng ký giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu trong các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 191a của Luật này;
b) Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ có văn bản báo cáo đại diện chủ sở hữu nhà nước về việc không có nhu cầu đăng ký.
2. Trường hợp không giao được quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều này, đại diện chủ sở hữu nhà nước công bố công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ về nội dung giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước mà không cần sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Người nắm độc quyền sử dụng không thực hiện trong một thời gian hợp lý các biện pháp hiệu quả để sử dụng giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà Nhà nước hỗ trợ trên 30% tổng số vốn;
b) Việc sử dụng nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, bảo đảm dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội.
4. Việc trả khoản tiền đền bù cho người nắm độc quyền sử dụng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng giống cây trồng theo quy định tại khoản 3 Điều này được thực hiện như sau:
a) Đối với giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước, tổ chức, cá nhân được phép sử dụng không phải trả tiền đền bù;
b) Đối với giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có một phần ngân sách nhà nước, tổ chức, cá nhân được phép sử dụng không phải trả tiền đền bù đối với phần quyền sử dụng tương ứng với phần ngân sách nhà nước đầu tư nhưng phải trả tiền đền bù với phần quyền sử dụng tương ứng với phần vốn đầu tư còn lại. Khoản tiền đền bù trả cho người nắm độc quyền sử dụng được xác định theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 195 của Luật này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
75. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 194 như sau:
“4. Quyền đối với giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, cá nhân là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam. Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sở hữu phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng của tổ chức chủ trì theo quy định của Luật này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
76. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 198 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm a điểm b khoản 1 như sau:
“a) Áp dụng biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, đưa thông tin quản lý quyền hoặc áp dụng các biện pháp công nghệ khác nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;”;
b) Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 và sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 như sau:
“1a. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.
2. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả, quyền của người biểu diễn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền quy định tại khoản 4 Điều 19 và điểm b khoản 2 Điều 29 của Luật này.
3. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này.”.
77. Bổ sung Điều 198a và Điều 198b vào sau Điều 198 như sau:
“Điều 198a. Giả định về quyền tác giả, quyền liên quan
Trong các thủ tục tố tụng dân sự, hành chính, hình sự về quyền tác giả và quyền liên quan, nếu không có chứng cứ ngược lại thì quyền tác giả, quyền liên quan được giả định như sau:
1. Cá nhân, tổ chức được nêu tên theo cách thông thường là tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng, nhà sản xuất tác phẩm điện ảnh, nhà xuất bản được coi là chủ thể quyền đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đó;
2. Nêu tên theo cách thông thường quy định tại khoản 1 Điều này được hiểu là được nêu tên trên bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan (nếu có) hoặc trên các bản sao tương ứng được công bố hợp pháp trong trường hợp bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan không còn tồn tại;
3. Cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng quyền tác giả hoặc quyền liên quan tương ứng.
Điều 198b. Trách nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian
1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet.
2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm triển khai các biện pháp kỹ thuật, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể quyền thực thi các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet.
3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet liên quan đến việc cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ của mình trong các trường hợp sau đây:
a) Chỉ thực hiện việc truyền dẫn nội dung thông tin số hoặc cung cấp khả năng truy nhập đến nội dung thông tin số;
b) Khi thực hiện chức năng lưu trữ đệm trong quá trình truyền dẫn thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện một cách tự động, tạm thời nhằm mục đích trung chuyển thông tin và làm cho việc truyền dẫn thông tin hiệu quả hơn, với các điều kiện sau: chỉ biến đổi thông tin vì lý do công nghệ; tuân thủ các điều kiện truy nhập, sử dụng nội dung thông tin số; tuân thủ các quy tắc về cập nhật nội dung thông tin số được quy định cụ thể theo cách thức được ngành công nghiệp thừa nhận và sử dụng rộng rãi; không ngăn cản việc sử dụng hợp pháp công nghệ được thừa nhận rộng rãi trong ngành công nghiệp để lấy dữ liệu về việc sử dụng nội dung thông tin số; gỡ bỏ nội dung thông tin số hoặc không cho truy nhập đến nội dung thông tin số khi biết rằng nội dung thông tin số đó đã được gỡ bỏ tại nguồn khởi đầu hoặc nguồn khởi đầu đã hủy việc truy nhập đến nội dung thông tin số đó;
c) Lưu trữ nội dung thông tin số của người sử dụng dịch vụ theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ với các điều kiện sau: không biết rằng nội dung thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; có hành động nhanh chóng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập đến nội dung thông tin số đó khi biết rằng nội dung thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan;
d) Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
4. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được miễn trừ trách nhiệm pháp lý theo quy định tại khoản 3 Điều này không phải tự giám sát dịch vụ của mình hoặc chủ động tìm kiếm các bằng chứng chỉ ra hành vi xâm phạm.
5. Nội dung thông tin số quy định tại Điều này là tác phẩm và các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ theo quy định của Luật này được thể hiện dưới dạng số.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
78. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 201 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1; sửa đổi, bổ sung khoản 2 và bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 như sau:
“1. Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Việc giám định tư pháp về sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp.
1a. Giám định về sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Giám định về quyền tác giả và quyền liên quan;
b) Giám định về quyền sở hữu công nghiệp;
c) Giám định về quyền đối với giống cây trồng.
2. Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật có ít nhất một cá nhân có Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2a Điều này.
2a. Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không được kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4khoản 5 như sau:
“4. Nguyên tắc thực hiện giám định bao gồm:
a) Tuân thủ pháp luật, tuân theo trình tự, thủ tục giám định;
b) Trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời;
c) Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được yêu cầu;
d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định;
đ) Chi phí giám định được xác định theo thỏa thuận giữa người có yêu cầu giám định và tổ chức, cá nhân giám định.
5. Kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xử lý, giải quyết vụ việc. Kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kết luận về vụ tranh chấp.”.
79. Sửa đổi, bổ sung các điều 212, 213 và 214 như sau:
“Điều 212. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự
Cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 213. Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ
1. Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý, hàng hóa sao chép lậu quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
2. Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu hoặc dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.
3. Hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó và việc gắn dấu hiệu này được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân không có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này hoặc theo pháp luật của nước xuất xứ của chỉ dẫn địa lý đó.
4. Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.
Điều 214. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả
1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều 211 của Luật này bị áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Ngoài các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và đáp ứng các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
3. Mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.”.
80. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 216 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp được tiến hành trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính;
b) Cơ quan hải quan chủ động thực hiện nếu trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát và kiểm soát phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.”;
b) Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 như sau:
“5. Chính phủ quy định chi tiết điểm b khoản 2 Điều này.”.
81. Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 218 như sau:
“4. Trong trường hợp cơ quan hải quan chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan phải thông báo ngay cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nếu có thông tin liên hệ và cho người nhập khẩu hoặc người xuất khẩu về việc tạm dừng.
Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày thông báo, nếu chủ thể quyền sở hữu trí tuệ không khởi kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan hải quan có trách nhiệm tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng.”.
82. Thay, bỏ từ, cụm từ tại một số điều sau đây:
a) Thay cụm từ “tác phẩm tạo hình” bằng cụm từ “tác phẩm mỹ thuật” tại điểm g khoản 1 Điều 14;
b) Thay cụm từ “cuộc biểu diễn” bằng cụm từ “quyền liên quan” và bỏ cụm từ “khoản 1” tại khoản 2 Điều 16;
c) Thay cụm từ “Điều 86” bằng cụm từ “Điều 86, Điều 86a” tại khoản 3 Điều 60, khoản 4 Điều 65khoản 2 Điều 71;
d) Thay cụm từ “lệ phí duy trì hiệu lực” bằng cụm từ “phí, lệ phí để duy trì hiệu lực” tại khoản 1 Điều 94;
đ) Thay cụm từ “lệ phí gia hạn hiệu lực” bằng cụm từ “phí, lệ phí để gia hạn hiệu lực” tại khoản 2 Điều 94;
e) Thay từ “lệ phí” bằng cụm từ “phí, lệ phí” tại khoản 3 Điều 94;
g) Thay cụm từ “lệ phí nộp đơn” bằng cụm từ “phí, lệ phí” tại điểm c khoản 1 Điều 108;
h) Thay cụm từ “bảo đảm thực thi” bằng từ “bảo vệ” tại điểm a khoản 1 Điều 151;
i) Thay từ “thực thi” bằng từ “bảo vệ” tại điểm bđiểm c khoản 1 Điều 151;
k) Thay từ “cây nho” bằng cụm từ “cây leo thân gỗ” tại Điều 159khoản 2 Điều 169;
l) Bỏ cụm từ “điểm b và” tại điểm a khoản 3 Điều 176;
m) Bỏ cụm từ “điểm a khoản 1” tại khoản 2 Điều 185;
n) Bỏ cụm từ “tại Điều 79” tại khoản 1 Điều 203;
o) Bỏ cụm từ “tại khoản 1 Điều 122” tại khoản 1 Điều 209;
p) Bỏ cụm từ “tại Chương VIII, Phần thứ nhất” tại Điều 210;
q) Bỏ cụm từ “và Điều 215” tại khoản 4 Điều 216Điều 219.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật khác có liên quan
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 35/2018/QH14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung tên Mục 8 Chương III như sau:
“Mục 8
KIỂM TRA, GIÁM SÁT, TẠM DỪNG LÀM THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 73 như sau:
“2. Cơ quan hải quan quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc người được ủy quyền hợp pháp có đơn đề nghị, bằng chứng về sở hữu hợp pháp quyền sở hữu trí tuệ, bằng chứng về việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và đã nộp một khoản tiền hoặc chứng từ bảo lãnh của tổ chức tín dụng để bảo đảm bồi thường thiệt hại và các chi phí phát sinh theo quy định của pháp luật do việc đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng. Cơ quan hải quan chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan nếu trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát và kiểm soát phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.”.
2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều 41 như sau:
“Điều 41. Quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
1. Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật cho việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
2. Đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước thì đại diện chủ sở hữu nhà nước được quy định như sau:
a) Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia;
b) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ, cấp tỉnh hoặc cấp cơ sở do mình phê duyệt;
c) Thủ trưởng cơ quan, tổ chức không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do mình quyết định phê duyệt.
3. Đại diện chủ sở hữu nhà nước quy định tại khoản 2 Điều này có quyền xét giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước theo quy định của Chính phủ cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu sử dụng, khai thác kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng đó được giao cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn hoặc giao cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Khi được cấp văn bằng bảo hộ, tổ chức chủ trì là chủ sở hữu các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng tương ứng.
5. Chính phủ quy định cụ thể quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ quy định tại Điều này.”;
b) Sửa đổi, bổ sung Điều 43 như sau:
“Điều 43. Phân chia lợi nhuận khi sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
1. Lợi nhuận thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được chia cho tác giả tối thiểu 30% và phần lợi nhuận còn lại được phân chia giữa chủ sở hữu, cơ quan chủ trì, người môi giới theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Việc phân chia lợi nhuận thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền, góp vốn bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thực hiện theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 105 của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2020/QH14 như sau:
“a) Giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ để phát huy kết quả của nhiệm vụ hoặc sử dụng tài sản để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trừ trường hợp kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng thì việc giao quyền được thực hiện theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ;”.
4. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giá số 11/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2014/QH13 và Luật số 64/2020/QH14 như sau:
a) Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 19 như sau:
“d) Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình trong trường hợp giới hạn quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 3 Điều 19 như sau:
“c) Định khung giá và mức giá cụ thể đối với:
- Đất, mặt nước, nước ngầm, rừng thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và nước sạch sinh hoạt;
- Giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ được xây dựng chi từ nguồn ngân sách nhà nước; giá bán hoặc giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
- Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và dịch vụ giáo dục, đào tạo tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở giáo dục, đào tạo của Nhà nước;
- Tiền bản quyền khi khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình trong trường hợp giới hạn quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ;”;
c) Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 22 như sau:
“d) Khung giá và mức giá tiền bản quyền khi khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình trong trường hợp giới hạn quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.”.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2023, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
2. Quy định về bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu âm thanh có hiệu lực thi hành từ ngày 14 tháng 01 năm 2022.
3. Quy định về bảo hộ dữ liệu thử nghiệm dùng cho nông hóa phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 14 tháng 01 năm 2024.
Điều 4. Quy định chuyển tiếp
1. Quyền tác giả, quyền liên quan được bảo hộ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nếu còn thời hạn bảo hộ thì tiếp tục được bảo hộ theo quy định của Luật này.
2. Đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan đã nộp cho cơ quan có thẩm quyền trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn.
3. Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đã nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn, trừ các trường hợp sau đây:
a) Quy định tại khoản 13 Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật này được áp dụng cho các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 nhưng chưa có quyết định cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
b) Quy định tại điểm e và điểm h khoản 2 Điều 74, điểm e khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 3 Điều 117 của Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo điểm b và điểm c khoản 22, khoản 35 và điểm b khoản 42 Điều 1 của Luật này được áp dụng cho các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp chưa có quyết định cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
c) Việc kiểm soát an ninh đối với sáng chế trong đơn đăng ký sáng chế chưa có quyết định cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 89a được bổ sung theo khoản 27 Điều 1 của Luật này;
d) Quy định tại Điều 118 của Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo khoản 43 Điều 1 của Luật này được áp dụng cho các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp chưa có thông báo kết quả thẩm định nội dung trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
4. Quy định tại các điều 86, 86a, 133a, 135, 136a, 139, 164, 191, 191a, 191b và 194 của Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo các khoản 25, 52, 53, 54, 55, 66, 74 và 75 Điều 1 của Luật này đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được áp dụng đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ được giao kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
5. Quyền và nghĩa vụ đối với kiểu dáng công nghiệp là bộ phận của sản phẩm lắp ráp thành sản phẩm phức hợp theo văn bằng bảo hộ đã được cấp trên cơ sở đơn đăng ký trước ngày 01 tháng 8 năm 2020 được áp dụng theo quy định của pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Căn cứ hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ được áp dụng theo quy định của pháp luật có hiệu lực đối với việc xét cấp văn bằng bảo hộ đó.
6. Cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hành nghề theo Chứng chỉ đã được cấp. Cá nhân đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp do cơ quan có thẩm quyền tổ chức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12 và Luật số 42/2019/QH14.
7. Đơn đăng ký bảo hộ quyền đối với giống cây trồng đã nộp cho cơ quan có thẩm quyền trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn. Cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hành nghề theo Chứng chỉ đã được cấp.
8. Các vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được cơ quan có thẩm quyền thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết xong thì tiếp tục áp dụng quy định của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12 và Luật số 42/2019/QH14 để giải quyết.

_______________

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2022.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Vương Đình Huệ

thuộc tính Luật 07/2022/QH15

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ của Quốc hội, số 07/2022/QH15
Cơ quan ban hành: Quốc hộiSố công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Số công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Số hiệu:07/2022/QH15Ngày đăng công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày đăng công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Loại văn bản:LuậtNgười ký:Vương Đình Huệ
Ngày ban hành:16/06/2022Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Khoa học-Công nghệ , Sở hữu trí tuệ
TÓM TẮT VĂN BẢN

Bổ sung các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả

Ngày 16/6/2022, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 07/2022/QH15.

Theo đó, bổ sung các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả như sau:

Thứ nhất, tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép;

Thứ hai, sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;

Thứ ba, sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy. Việc sử dụng này có thể bao gồm việc cung cấp trong mạng máy tính nội bộ với điều kiện phải có các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm chỉ người học và người dạy trong buổi học đó có thể tiếp cận tác phẩm này;

Thứ tư, sử dụng tác phẩm trong hoạt động công vụ của cơ quan Nhà nước;...

Đáng chú ý, điểm mới về tác giả, đồng tác giả được quy định như sau: Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả; Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.

Việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm có đồng tác giả phải có sự thỏa thuận của các đồng tác giả, trừ trường hợp tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác hoặc luật khác có quy định khác.

Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2023.

Xem chi tiết Luật 07/2022/QH15 tại đây

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiển thị:
download Văn bản gốc có dấu (PDF)
download Văn bản gốc (Word)
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE NATIONAL ASSEMBLY
_______

Law No. 07/2022/QH15

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness
_______________________

Hanoi, June 16, 2022

 

LAW

AMENDING AND SUPPLEMENTING A NUMBER OF THE LAW ON INTELLECTUAL PROPERTY

 

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;

The National Assembly hereby promulgates the Law on Amending and Supplementing a Number of the Law on Intellectual Property No. 50/2005/QH11, which had a number of articles amended and supplemented under the Law No. 36/2019/QH12 and the Law No. 42/2019/QH14.

 

Article 1. Amending and supplementing a number of articles of the Law on Intellectual Property

1. To amend and supplement number of Clauses of Article 4 as follows:

a) To amend and supplement Clauses 8, 9 and 10; add Clauses 10a, 10b, 10c and 10d after Clause 10; amend and supplement Clause 11 and add Clause 11a after Clause 11 as follows:

“8. Derivative work means a work created on the basis of one or more existing works through translation from one language into another, adaptation, compilation, annotation, selection, modification, transformation of music and other transformation.

9. Published work, phonogram or video recording means a work, phonogram or video recording which has been made available to the public with the permission of the copyright holder or related right holder in any form in a reasonable amount of copies.

10. Reproduction means the making of copies of the whole or part of a work or a phonogram or video recording by whatever mode or in whatever form.

10a. Royalties mean payments made for the creation or transfer of copyright or related rights over works, performances, phonograms, video recordings and broadcasts, including author payments and remunerations.

10b. Technological measure to protect rights means a measure to use any technique, technology, equipment or component during normal operation with the main function to protect copyright and related rights for acts without the permission of the copyright holders or related right holders.

10c. Effective technological measure means a technological measure to protect the rights in which the holders of copyright and related rights control the use of works, performances, phonograms, video recordings, broadcasts, encrypted program-carrying satellite signals through access control applications, protection procedures or copy control mechanisms.

10d. Right management information means identifying information about works, performances, phonograms, video recordings, broadcasts, encrypted program-carrying satellite signals; about authors, performers, copyright holders, related right holders and conditions for exploitation and use; numbers and codes showing the above information. Right management information shall be attached to a copy or appear concurrently with a work, performance, phonogram, video recording, or broadcast when the work, performance, phonogram, video recording, or broadcast is transmitted to the public.

11. Broadcasting means the transmission to the public by wireless means of sound or images or both sounds and images or sound or image reproductions or both audio and image reproductions of works, performances, phonograms, video recordings, broadcasts. Broadcasting includes satellite transmissions, transmission of encrypted signals where decryption devices are made available to the public by broadcasting organizations or provided with the consent of broadcasting organizations.

11a. Communication to the public means the transmission to the public of works; sounds and images of performances; sounds, images or the reproduction of sounds and images fixed in phonograms or video recordings by any means other than broadcasting.”;

b) To add Clause 12a after Clause 12, and amend and supplement Clause 13 as follows:

“12a. Confidential invention means an invention identified as a State secret by competent agencies or organizations in accordance with the law on protection of State secrets.

13. Industrial design means a specific appearance of a product or part for assembly into a complex product embodied by three-dimensional configurations, lines, colors, or a combination of these elements and visible in the process of exploiting the use of a product or a complex product.”;

c) To amend and supplement Clause 20 as follows:

“20. Well-known trademark means a mark widely known by the relevant public throughout the Vietnamese territory.”;

d) To amend and supplement Clause 22 and add Clause 22a after Clause 22 as follows:

“22. Geographical indication means a sign which identifies the geographical origin of a product from a specific region, locality, territory or country.

22a. Homonymous geographical indications mean those indications that sound, spell or read alike.”.

2. To amend and supplement Clause 2 Article 7 as follows:

“2. The exercise of intellectual property rights must neither be prejudicial to the State's interests, public interests, legitimate rights and interests of organizations and individuals, nor violate other relevant provisions of law. Organizations and individuals exercising intellectual property rights related to the National Flag, National Emblem and National Anthem of the Socialist Republic of Vietnam must not prevent or obstruct the dissemination and use of the National Flag, National Emblem and National Anthem.”.

3. To amend and supplement Clauses 2 and 3 Article 8 as follows:

“2. To encourage and promote the activities of innovation and exploitation of intellectual assets through financial support, tax incentives, credit and other support and investment incentives in accordance with the provisions of law in order to contribute to socio-economic development and improve the people's material and spiritual life.

 3. To provide financial supports for the creation, receipt and exploitation of assigned intellectual property rights for public interests; to encourage organizations and individuals at home or abroad to provide financial aids for innovation activities and the protection of intellectual property rights.”.

4. To add Article 12a above Article 13 of Section 1 Chapter I Part two as follows:

“Article 12a. Authors and co-authors

1. An author is a person who directly creates a work. Where two or more people directly co-create a work with the intention that their contributions are combined into a complete whole, those persons are co-authors.

2. A person who supports, gives suggestions or provides materials for another person to create a work is not the author or co-author.

3. The exercise of moral rights and economic rights for a work with co-authors must be agreed upon by the co-authors, unless the work has a separate part that can be separated for independent use without prejudice to the work of other co-authors or otherwise provided by other laws.”.

5. To amend and supplement Articles 19, 20 and 21 as follows:

“Article 19. Moral rights

Moral rights include:

1. Titling their works.

Authors may transfer the right to use the right to title their works to organizations or individuals that receive the transfer of economic rights as specified in Clause 1 Article 20 of this Law;

2. Attaching their real names or pseudonyms to their works; having their real names or pseudonyms acknowledged when their works are published or used;

3. Publishing their works or authorizing other persons to publish their works;

4. Protecting the integrity of their works, and preventing other persons from modifying, mutilating or distorting their works in whatever form prejudicial to their honor and reputation.

Article 20. Economic rights

1. Economic rights include:

a) To make derivative works;

b) To display directly or indirectly their works to the public through phonograms, video recordings or any other technical means at a place accessible to the public but the public cannot freely choose the time and part of the works;

c) To reproduce directly or indirectly all or part of their works by any means or forms, except for the cases specified at Point a Clause 3 of this Article;

d) To distribute or import for distribution to the public through sale or other forms of ownership transfer with respect to original works or copies thereof in tangible form, except for the cases specified at Point b Clause 3 of this Article;

dd) To broadcast or communicate works to the public by wire or wireless means, electronic information networks or any other technical means, including making the works available to the public in a way accessible to the public at a place and time of their choosing;

e) To lease original cinematographic works and computer programs or copies thereof, unless computer program is not the main object of the lease.

2. The rights specified in Clause 1 of this Article shall be exclusively exercised by authors or copyright holders, or granted by authors or copyright holders to other organizations and individuals for exercise under the provisions of this Law.

Organizations and individuals, when exploiting or exercising one, several or all of the rights specified in Clause 1 of this Article and Clause 3 Article 19 of this Law, shall have to ask for permission from the copyright holders and pay royalties and other material benefits (if any) to copyright holders, except for the cases specified in Clause 3 of this Article and Articles 25, 25a, 26, 32 and 33 of this Law. In case of making a derivative work that affects the moral rights specified in Clause 4 Article 19 of this Law, the author's written consent shall be required.

3. Copyright holders are not allowed to prevent other organizations or individuals from performing the following acts:

a) To reproduce works to exercise other rights under this Law; temporarily reproduce according to a technological process, during the operation of devices for transmission in a network between third parties through intermediaries or lawful use of works, which have no independent economic purpose and the copies are automatically deleted and cannot be restored;

b) To distribute for the next time, import for distribution of the original, copies of works that have been performed or authorized by copyright holders to be distributed.

Article 21. Copyright to cinematographic works and dramatic works

1. Copyright to cinematographic works shall be regulated as follows:

a) Playwrights and directors shall be entitled to the rights specified in Clauses 1, 2 and 4 Article 19 of this Law;

b) Cameraman, montage-makers, music composers, art designers, studio sound, lighting designers, technical-effect designers, actors, actresses, and persons engaged in other creative jobs in the making of cinematographic works, shall be entitled to the rights specified in Clause 2 Article 19 of this Law;

c) Organizations and individuals that invest their finance and material-technical facilities in the production of cinematographic works shall be holders of the rights specified in Clause 3 Article 19 and Clause 1 Article 20 of this Law, unless otherwise agreed in writing. The organizations and individuals shall be obliged to pay royalties and other material benefits (if any) as agreed upon with the persons defined at Points a and b of this Clause;

d) Organizations and individuals that invest their finance and material-technical facilities in the production of cinematographic works may reach an agreement with the persons specified at Point a of this Clause to title and modify works;

dd) In case scripts or musical works in cinematographic works are used independently, the authors or copyright holders of the scripts or musical works shall enjoy copyright independently of such scripts or musical works, unless otherwise agreed in writing.

2. Copyright to dramatic works shall be regulated as follows:

a) Authors of dramatic scripts shall enjoy the rights specified in Clauses 1, 2 and 4 Article 19 of this Law;

b) Authors of literary and musical works, dramatic directors, music conductors, choreographers, stage and costume designers, and persons engaged in other creative jobs in the making of dramatic works, shall enjoy the rights specified in Clause 2, Article 19 of this Law;

c) Organizations and individuals that invest their finance and material-technical facilities in the production of dramatic works shall be holders of the rights specified in Clause 3 Article 19 and Clause 1 Article 20 of this Law, unless otherwise agreed in writing. The organizations and individuals shall be obliged to pay royalties and other material benefits (if any) as agreed upon with the persons defined at Points a and b of this Clause;

d) Organizations and individuals that invest their finance and material-technical facilities in the production of dramatic works may reach an agreement with the persons specified at Point a of this Clause to title and modify works;

dd) In case literary and musical works in dramatic works are used independently, the authors or copyright holders of the literary or musical works shall enjoy copyright independently of such literary and musical works unless otherwise agreed in writing.”.

6. To amend and supplement Clause 1 Article 22 as follows:

“1. A computer program means a set of instructions which is expressed in form of commands, codes, diagrams or other forms and, when incorporated in a mean or device operating in a computer programming language, capable of enabling such computers to perform a job or achieve a designated result. Computer programs shall be protected like literary works, irrespective of whether they are expressed in form of source codes or machine codes.

Authors and copyright holders of a computer program may reach an agreement in writing with each other on the repair and upgrade of the computer program. Organizations and individuals that have the legal right to use a copy of a computer program may make a backup copy for replacement when that copy is deleted, damaged or cannot be used but is not transferred to the organization, other individuals”.

7. To amend and supplement Article 25 and add Article 25a after Article 25; amend and supplement Article 26 as follows:

“Article 25. Exceptions where copyrights are not infringed

1. Cases of use of published works where permission and payment of royalties are not required, but information about the authors’ name and the work origin is required include:

a) Duplication of works by authors for scientific research or teaching purposes and for non-commercial purposes. This provision does not apply in the case of duplication by copying devices;

b) Reasonable duplication of a part of works by copying devices for scientific research or teaching purposes and for non-commercial purposes;

c) Reasonable use of works for illustration in lectures, publications, performances, phonograms, video recordings, broadcasts for teaching purposes. This use may include the provision on the internal computer network provided that technical measures are taken to ensure that only students and lecturers in the session may access to this work;

d) Use of works in official activities of State agencies;

dd) Reasonable recitation of works without misrepresenting the authors’ views for commentary, introduction, or illustrative purposes; or in articles published in newspapers or periodicals, in broadcasts, or in documentaries;

e) Use of works in non-commercial library activities, including reproduction of works stored in the library for preservation, provided that the copies are marked as archival copies with limited objects of access in accordance with the law on libraries and archives. Reasonable reproduction of a part of works by copying devices for scientific research or teaching purposes of other people. Reproduction or transmission of works stored for inter-library use over a computer network provided that the number of readers at the same time does not exceed the number of copies of the works held by the libraries, unless for the cases of obtaining the permission from the right holders and shall not apply in case the works have been made available on the market in digital form;

g) Performance of dramatic works, music, dance or other performing-art works in mass cultural, communication or mobilization activities for non-commercial purposes;

h) Photographing or televising of fine art, architectural, photographic, applied-art works displayed at public places for purpose of presenting images of such works for non-commercial purposes;

i) Importation of copies of others’ works for personal use and non-commercial purposes;

k) Reproduction by republishing in newspapers, periodicals, broadcasting or other forms of communication to the public of lectures, speeches and other speeches presented to the public to the extent appropriate for current news purposes, except where the author claims to hold copyright;

l) Photographing, audiovisual recording or broadcasting of events for the purpose of reporting current events, including using works heard or seen in such events;

m) People with visual impairments, people with disabilities who cannot read print and other disabled people who cannot access works to read in the usual way (hereinafter referred to as people with disabilities), people who nurture and care for people with disabilities, organizations that meet the conditions prescribed by the Government to use works as prescribed in Article 25a of this Law.

2. The use of works specified in Clause 1 of this Article must not contradict the normal exploitation of works and unreasonably cause damage to the legitimate interests of authors or the copyright holders.

3. The reproduction of works specified in Clause 1 of this Article shall not be applied to architectural works, art works or computer programs; the making of anthologies and anthology of works.

4. The Government shall detail this Article.

Article 25a. Exceptions where copyrights for people with disabilities are not infringed

1. People with disabilities, people who nurture and care for people with disabilities may reproduce, perform, communicate copies in an accessible format of works when having the legal right to access the originals or copies of the works. A copy in an accessible format means a copy of a work rendered in an alternative format or other format for persons with disabilities; may only be used for personal use by persons with disabilities and may be subject to appropriate technical adjustments necessary for the persons with disabilities to access works.

2. Organizations that meet the conditions prescribed by the Government may reproduce, distribute, perform and communicate copies in an accessible format of works when having legal right to access the originals or copies of works and operating for non-profit purposes.

3. Organizations that meet the conditions prescribed by the Government may distribute or communicate copies in a format accessible to the respective organization in accordance with treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party without the permission from the copyright holders.

4. Organizations that meet the conditions prescribed by the Government may distribute or communicate copies in a format accessible to people with disabilities in other countries according to treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party without the permission from the copyright holders, provided that, prior to distribution or transmission, the organizations do not know or have no grounds to know that copies in accessible format shall be used by anyone other than persons with disabilities.

5. People with disabilities, people who nurture and care for people with disabilities or organizations that meet the conditions prescribed by the Government may import copies in an accessible format of works from the respective organizations according to treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party without the permission from the copyright holders.

6. The Government shall detail this Article.

Article 26. Limitations of copyright

1. Cases of using published works where permission is not required or but the payment of royalties is required, and the information about the authors’ names, and sources and origins of the works is required include:

a) Broadcasting organizations that use published works or works permitted by the copyright holders to be fixed on phonograms and video recordings for commercial purposes, which are sponsored, advertised or charged in whatever form, shall not have to obtain permission but have to pay royalties to copyright holders from the time of use. Royalties and payment methods shall be agreed upon by the parties; in case no agreement is reached, the Government's regulations shall prevail.

Broadcasting organizations that use published works or works permitted by the copyright holders to be fixed on phonograms and video recordings for commercial purposes, without sponsorship, advertisement or charge in any form, shall not have to obtain permission but have to pay royalties to copyright holders from the time of use in accordance with the Government's regulations;

b) Organizations and individuals which use works permitted by copyright holders to be fixed on phonograms and video recordings for commercial purposes, in business and commerce, shall not have to obtain permission but have to pay royalties to copyright holders as agreed from the time of use. In case no agreement is reached, the Government's regulations shall prevail. The Government shall detail the business and commercial activities specified at this Point.

2. The use of works specified in Clause 1 of this Article must not contradict the normal exploitation of works and unreasonably cause damage to the legitimate interests of authors or the copyright holders.

3. The use of works in the cases specified in Clause 1 of this Article shall not apply to cinematographic works.

4. Vietnamese organizations and individuals enjoy the privileges accorded to developing countries for the right to translate works from foreign languages into Vietnamese and the right to reproduce for teaching and research for non-commercial purposes in accordance with treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party shall comply with the Government's regulations.

5. Organizations and individuals wishing to exploit and use published works of Vietnamese organizations or individuals but impossible to find or identify the copyright holders shall comply with the Government's regulations.”.

8. To amend and supplement Article 28 as follows:

“Article 28. Acts of infringing upon copyright

1. Infringing the moral rights specified in Article 19 of this Law.

2. Infringing the economic rights specified in Article 20 of this Law.

3. Failing to conduct or incompletely conducting the obligations specified in Articles 25, 25a and 26 of this Law.

4. Intentionally canceling or deactivating effective technological solutions applied by authors or copyright holders to protect copyright over their works in order to commit acts specified in this Article and Article 35 of this Law.

5. Manufacturing, distributing, importing, offering, selling, promoting, advertising, marketing, leasing or storing equipment, products or components for commercial purposes, recommending or providing services when knowing or having grounds to know that such equipment, products or components are manufactured or used to deactivate effective technological solutions to protect copyright.

6. Intentionally deleting, removing or modifying right management information without the permission of authors, copyright holders when knowing or having grounds to know that the performance of such acts may instigate, enable, facilitate or conceal acts of infringing upon copyright as prescribed by law.

7. Intentionally distributing, importing for distribution, broadcasting, communicating or otherwise making available to the public copies of works when knowing or having grounds to know that right management information has been deleted, removed, or modified without permission from the copyright holders; when knowing or having grounds to know that the performance of such acts may instigate, enable, facilitate or conceal acts of infringing upon copyright as prescribed by law.

8. Failing to perform or unfully performing the provisions to be exempted from legal liability of enterprises providing intermediary services specified in Clause 3 Article 198b of this Law.”.

9. To amend and supplement Articles 29, 30, 31, 32 and 33 as follows:

“Article 29. Rights of performers

1. Performers shall have moral rights and economic rights to the performance in accordance with this Law.

Where performers are not concurrently the holders of the right toward the performance, performers shall enjoy the moral rights specified in Clause 2 of this Article, whereas the holders of the right toward the performance enjoy the economic rights specified in Clause 3 of this Article.

2. Moral rights include:

a) To be acknowledged when performing or distributing phonograms, video recordings, or broadcasting performances;

b) To protect the integrity of performed figures, prevent others from distorting, modifying or mutilating works in whatever form prejudicial to the honor and reputation of performers.

3. Economic rights include exclusive rights to exercise or authorize other organizations or individuals to exercise the following rights:

a) To fix their live performances on phonograms or video recordings;

b) To directly or indirectly reproduce all or part of their performances which have been fixed on phonograms or video recordings by any means or forms, except for the case specified at Point a Clause 5 of this Article;

c) To broadcast or communicate to the public their unfixed performances in a way accessible by the public, except where such performances are intended for broadcasting;

d) To distribute or import for distribution to the public by sale or other form of ownership transfer to the original or copy of their fixed performance in tangible form, except for the case specified at Point b Clause 5 of this Article;

dd) To commercially lease to the public the originals or copies of their performances which have been fixed on phonograms or video recordings, even after they are distributed by performers or with their permission;

e) To broadcast or communicate to the public their performances which have been fixed, including making it available to the public in a way accessible at the specific place and time indicated by them.

4. Organizations and individuals, when exploiting or exercising one, several or all of the rights specified in Clause 3 of this Article, shall have to ask for permission from the right holders and pay royalties and other material benefits (if any) to the right holders as prescribed by law or as agreed upon in cases where the law does not provide for it, except for the cases specified in Clause 5 of this Article and Articles 25, 25a, 26, 32 and 33 of this Law.

5. Holders of the right toward the performances are not allowed to prevent other organizations or individuals from performing the following acts:

a) To reproduce performances to exercise other rights under this Law; temporarily reproduce according to a technological process, during the operation of devices for transmission in a network between third parties through intermediaries or lawful use of their fixed performance on phonograms, video recordings, which have no independent economic purpose and the copies are automatically deleted and cannot be restored;

b) To distribute for the next time, import for distribution of the original, copies of performances which have been fixed and performed or authorized the distribution by the copyright holders.

Article 30. Rights of producers of phonograms and video recordings

1. Producers of phonograms and video recordings shall have the exclusive right to exercise or authorize other organizations or individuals to exercise the following rights:

a) To directly or indirectly reproduce all or part of their phonograms and video recordings by any means or forms, except for the cases specified at Point a Clause 3 of this Article;

b) To distribute or import for distribution to the public through sale or other forms of ownership transfer for their original phonograms and video recordings and copies thereof in tangible form, except for the cases specified at Point b Clause 3 of this Article;

c) To conduct the commercial rental of their original phonograms and video recordings and copies thereof to the public, even after distribution by producers or with the producers’ permission;

d) To broadcast and communicate their original phonograms and video recordings and copies thereof to the public, including making it available to the public in a way accessible at the place and time specified by their choice.

2. Organizations and individuals, when exploiting or exercising one, several or all of the rights specified in Clause 1 of this Article, shall have to ask for permission from the holders of the right toward the phonograms or video recordings and pay royalties and other material benefits (if any) to such right holders as prescribed by law or as agreed upon in cases where the law does not provide for it, except for the cases specified in Clause 3 of this Article and Articles 25, 25a, 26, 32 and 33 of this Law.

3. Holders of the right toward the phonograms or video recordings are not allowed to prevent other organizations or individuals from performing the following acts:

a) To reproduce the phonograms or video recordings to exercise other rights under this Law; temporarily reproduce according to a technological process, during the operation of devices for transmission in a network between third parties through intermediaries or lawful use of the phonograms or video recordings, which have no independent economic purpose and the copies are automatically deleted and cannot be restored;

b) To distribute for the next time, import for distribution of the original, copies of the phonograms or video recordings which have been performed or authorized the distribution by the copyright holders.

Article 31. Rights of broadcasting organizations

1. Broadcasting organizations shall have the exclusive right to exercise or authorize other organizations or individuals to exercise the following rights:

a) To broadcast or rebroadcast their broadcasts;

b) To directly or indirectly reproduce all or part of their fixed broadcasts by any means or forms, except for the cases specified at Point a Clause 3 of this Article;

c) To fix their broadcasts;

d) To distribute or import for distribution to the public by through sale or other forms of ownership transfer of their fixed broadcasts in tangible form, except for the cases specified at Point b Clause 3 of this Article.

2. Organizations and individuals, when exploiting or exercising one, several or all of the rights specified in Clause 1 of this Article, shall have to ask for permission from the right holders of the broadcasts and pay royalties and other material benefits (if any) to such right holders as prescribed by law or as agreed upon in cases where the law does not provide for it, except for the cases specified in Clause 3 of this Article and Articles 25, 25a, 26, 32 and 33 of this Law.

3. Holders of the right toward the broadcasts are not allowed to prevent other organizations or individuals from performing the following acts:

a) To reproduce broadcasts to exercise other rights under this Law; temporarily reproduce according to a technological process, during the operation of devices for transmission in a network between third parties through intermediaries or lawful use of broadcasts, which have no independent economic purpose and the copies are automatically deleted and cannot be restored;

b) To distribute for the next time, import for distribution of the original, copies of fixed broadcasts that have been performed or authorized by copyright holders to be distributed.

Article 32. Exceptions where related rights are not infringed

1. Cases of using published performances, phonograms, video recordings, broadcasts where neither permission nor royalty payment is required, but information about the performances, phonograms, video recordings and broadcasts must be informed, include:

a) Directly audiovisual recording of part of a performance for purpose of reporting current events, or for non-commercial teaching purposes;

b) Self-reproduction or support for people with disabilities to reproduce part of performances, phonograms, video recordings, broadcasts for scientific research or non-commercial teaching purposes;

c) Reasonable reproduction of part of performances, phonograms, video recordings, broadcasts for personal teaching without commercial purposes, except for the cases where the performances, phonograms, or video recordings have been published for teaching purposes;

d) Reasonable recitation for for the purpose of reporting current events;

dd) Making of provisional copies of works by broadcasting organizations themselves for broadcasting purpose when they enjoy the broadcasting right.

2. The use of performances, phonograms, video recordings or broadcasts specified in Clause 1 of this Article must not contradict the normal utilization of performances, phonograms, video recordings or broadcasts, nor cause any unreasonable damage to the legitimate interests of performers, producers of phonograms and video recordings, and broadcasting organizations.

3. The Government shall detail this Article.

Article 33. Limitations of related rights

1. Cases of using published phonograms or video recordings, where permission is not required, but both royalty payment and information about the performances, phonograms, video recordings and broadcasts are required, include:

a) Organizations and individuals using published phonograms or video recordings for commercial purposes, which are sponsored, advertised or charged in whatever form shall not have to obtain permission but have to pay royalties to performers, producers of phonograms or video recordings, and broadcasting organizations from the time of use. Royalties and payment methods shall be agreed upon by the parties; in case no agreement is reached, the Government's regulations shall prevail.

Organizations and individuals using published phonograms or video recordings for commercial purposes, without sponsorship, advertising or charge in whatever form shall not have to obtain permission but have to pay royalties to performers, producers of phonograms or video recordings, and broadcasting organizations from the time of use in accordance with the Government's regulations;

b) Organizations and individuals using published phonograms or video recordings for commercial purposes, in business and commerce shall not have to obtain permission but have to pay royalties to performers, producers of phonograms or video recordings, and broadcasting organizations from the time of use. In case no agreement is reached, the Government's regulations shall prevail. The Government shall detail the business and commercial activities specified at this Point.

2. The use of phonograms or video recordings specified in Clause 1 of this Article must not contradict the normal utilization of performances, phonograms, video recordings or broadcasts, nor cause any unreasonable damage to the legitimate interests of performers, producers of phonograms or video recordings, and broadcasting organizations.

3. Organizations and individuals wishing to exploit and use published phonograms or video recordings of Vietnamese organizations or individuals but impossible to find or identify the related right holders shall comply with the Government's regulations.”.

10. To amend and supplement Article 35 as follows:

“Article 35. Acts of infringing upon related rights

1. Infringing the performers’ rights specified in Article 29 of this Law.

2. Infringing the rights of producers of phonograms or video recordings specified in Article 30 of this Law.

3. Infringing the rights of broadcasting organizations specified in Article 31 of this Law.

4. Failing to perform or unfully performing the obligations specified in Articles 32 and 33 of this Law.

5. Intentionally canceling or deactivating effective technological solutions applied by related right holders to protect their rights in order to commit acts specified in this Article and Article 28 of this Law.

6. Manufacturing, distributing, importing, offering, selling, promoting, advertising, marketing, leasing or storing equipment, products or components for commercial purposes, recommending or providing services when knowing or having grounds to know that such equipment, products or components are manufactured or used to deactivate effective technological solutions to protect related rights.

7. Intentionally deleting, removing or modifying right management information without the permission of related right holders when knowing or having grounds to know that the performance of such acts may instigate, enable, facilitate or conceal acts of infringing upon related rights as prescribed by law.

8. Intentionally distributing, importing for distribution, broadcasting, communicating or otherwise making available to the public performances, fixed copies of performances or phonograms, video recordings, or broadcasts when knowing or having grounds to know that right management information has been deleted, removed, or modified without permission of related right holders; when knowing or having grounds to know that the performance of such acts may instigate, enable, facilitate or conceal acts of infringing upon related rights as prescribed by law.

9. Manufacturing, assembling, transforming, distributing, importing, exporting, offering, selling or leasing equipment, systems when knowing or having grounds to know that such equipment, systems help illegally decode or essential to help illegally decode an encrypted program-carrying satellite signal.

10. Intentionally receiving or relaying an encrypted program-carrying satellite signal when such signal has been encoded without permission of the legal distributor.

11. Failing to perform or unfully performing the provisions to be exempted from legal liability of enterprises providing intermediary services specified in Clause 3 Article 198b of this Law.”.

11. To amend and supplement Article 36 as follows:

“Article 36. Copyright holders

Copyright holders mean organizations and individuals that hold one, several or all the rights specified in Clause 3 Article 19 and Clause 1 Article 20 of this Law.”.

12. To amend and supplement Articles 41, 42, 43 and 44, and add Article 44a after Article 44 of Chapter III Part two as follows:

“Article 41. Copyright holders being right assignees

1. Organizations and individuals that are assigned one, several or all of the rights specified in Clause 3 Article 19 and Clause 1 Article 20 of this Law under contracts shall be copyright holders.

2. Organizations and individuals that are managing or receiving rights toward anonymous works shall enjoy rights of owners until the names of authors or co-authors of these works are identified. When the name of authors or co-authors is identified, the holders of copyright toward such works, the rights and obligations related to the copyright of organizations or individuals, that are managing or receiving the right assignment, shall be determined in accordance with this Law and other relevant laws.

Article 42. Copyright and related right holders being the State

1. The State is the representative of copyright and related right holders in the following cases:

a) Works, performances, phonograms, video recordings and broadcasts created under the order, task assignment or bidding of agencies using the State budget;

b) Works, performances, phonograms, video recordings and broadcasts that are transferred by copyright holders, related rights holders, co-holders of the copyright or related rights to the State;

c) Works, performances, phonograms, video recordings and broadcasts during the term of protection in which copyright holders, related right holders, co-holders of the copyright or related rights die without an heir or the heir refuses to receive the heritage or has no right to inherit the heritage.

2. The State shall represent to manage copyright and related rights in the following cases:

a) Works, performances, phonograms, video recordings, broadcasts of which the copyright holders, related right holders, co-holders of copyright or related rights cannot be found or identified according to this Law;

b) Works that are anonymous until the name of authors, co-authors, copyright holders or co-holders of the copyright is identified, except for the cases specified in Clause 2 Article 41 of this Law.

3. Agencies that use the State budget to place orders, assign tasks, and bid for the creation of works, performances, phonograms, video recordings or broadcasts are representatives of the State in exercising the rights of holders of the copyright and related rights in the cases specified at Point a Clause 1 of this Article.

The State management agencies in charge of copyright and related rights shall be representatives of the State in exercising the rights of copyright and related right holders in the cases specified at Points b and c Clause 1 and Clause 2 of this Article.

4. The Government shall detail Clauses 1 and 2 of this Article; prescribe the tariff and method of royalty payment in the cases specified in Clauses 1 and 2 of this Article.

Article 43. Works, performances, phonograms, video recordings and broadcasts belong to the public

1. Works of which the terms of protection have expired under Clause 2 Article 27 of this Law, and performances, phonograms, video recordings or broadcasts of which the terms of protection have expired under Article 34 of this Law shall belong to the public.

2. All organizations and individuals shall be entitled to use works, performances, phonograms, video recordings and broadcasts defined in Clause 1 of this Article but must respect the moral rights of the authors and performers specified in this Law and relevant laws.

3. The Government shall detail the use of works, performances, phonograms, video recordings and broadcasts belong to the public.

Article 44. Related right holders

1. Related right holders include:

a) Performers that use their time and invest their finance and material- technical foundations in making performances shall be right holders of such performances, unless otherwise agreed with the concerned parties;

b) Producers of phonograms and video recordings that use their time and invest their finance and material- technical foundations in producing phonograms and/or video recordings shall be right holders of such phonograms and/or video recordings, unless otherwise agreed with the concerned parties;

c) Broadcasting organizations shall be right holders of their broadcasts, unless otherwise agreed with concerned parties.

2. Related right holders that are organizations assigning tasks to their affiliated organizations or individuals to perform performances, phonograms, video recordings or broadcasts, shall be holders of the respective rights specified in Clause 3 Article 29, Clause 1 Article 30 and Clause 1 Article 31 of this Law, unless otherwise agreed.

3. Related right holders that are organizations or individuals entering into contracts with other organizations, individuals to perform performances, phonograms, video recordings or broadcasts, shall be holders of the respective rights specified in Clause 3 Article 29, Clause 1 Article 30 and Clause 1 Article 31 of this Law, unless otherwise agreed.

4. Organizations and individuals that inherit the related right according to the law on inheritance shall be holders of the rights specified in Clause 3 Article 29, Clause 1 Article 30 and Clause 1 Article 31 of this Law.

5. Organizations and individuals that are transferred one, several or all of the rights as agreed in contracts shall be the holders of one, several or all of the respective rights specified in Clause 3 Article 29, Clause 1 Article 30 and Clause 1 Article 31 of this Law.

Article 44a. Principles of determination and division of royalties

1. Co-holders of the copyright or related rights shall reach an agreement on the rate of royalty division according to the creative participation for the entire works, performances, phonograms, video recordings, broadcasts, capital contributions according to the modes of exploitation and use.

2. The distribution rate of royalties when phonograms or video recordings are used under Clause 1 Article 26 and Clause 1 Article 33 of this Law shall comply with the agreement of copyright holders, performers and related right holders to such phonograms or video recordings. In case no agreement is reached, the Government's regulations shall prevail.

3. Royalties shall be determined according to a frame and tariff based on the type, form, quality, quantity or frequency of exploitation and use; harmonizing the interests of creators, institutional or individual exploiters or users, and the public in accordance with the socio-economic conditions according to the time and place where the acts of exploitation and use take place.”.

13. To amend and supplement Clauses 1 and 2 Article 47 as follows:

“1. Licensing of copyright and related rights means the permission by copyright holders or related right holders for other organizations and individuals to use for a definite term one, several or all the rights specified in Clauses 1 and 3 Article 19, Clause 1 Article 20, Clause 3 Article 29, Clause 1 Article 30 and Clause 1 Article 31 of this Law.

2. Authors may not transfer the right to use moral rights specified in Clauses 2 and 4 Article 19 of this Law. Performers may not transfer the right to use moral rights specified in Clause 2 Article 29 of this Law.”.

14. To amend and supplement Article 49 and Article 50 as follows:

“Article 49. Registration of copyright or related rights

1. The registration of copyright and related rights means the submission of dossiers by authors, copyright holders or related right holders to the competent State agencies for recording of information on authors, works, copyright holders and related right holders.

2. The submission of dossiers for grant of certificates of registered copyright or certificates of registered related rights is not a compulsory formality for enjoyment of copyright or related rights according to the provisions of this Law.

3. Organizations and individuals that are granted certificates of registered copyright or certificates of registered related rights shall not have to bear the burden of proof of such copyright and related rights upon disputes, unless rebutting proofs are adduced.

4. Organizations and individuals shall pay fees and charges when carrying out procedures for registration of copyrights and related rights in terms of grant, re-grant, renewal or invalidation of certificates of registered copyright or registered related rights.

5. The Government shall detail the conditions, order and procedures for grant of certificates of registered copyright or registered related rights.

Article 50. Dossiers for registration of copyright or related rights

1. Authors, copyright holders and related rights holders may directly or authorize other organizations or individuals to submit dossiers for registration of copyright or related rights in person, by postal service or via the online public service portal to the State management agencies in charge of copyright and related rights.

2. A dossier for registration of copyright or related rights comprises:

a) A written declaration for registration of copyright or related rights.

A written declaration must be made in Vietnamese, fully stating the information on the applicant, author, copyright holder or related rights holder; completion time; summarized content of the work, performance, phonogram, video recording or broadcast; the name of the author or copyright holder, the title of the work used to make derivative work in cases where the to be-registered work is a derivative work; the date, place and form of publication; information about re-grant or renewal (if any), the guaranteed responsibility for information stated in the written declaration. A written declaration must be signed or fingerprinted by the author, copyright holder or related right holder, except for the cases of physical incapacity to sign or fingerprint.

The Minister of Culture, Sports and Tourism shall set the form of written declarations for copyright or related right registration;

b) Two copies of the work subject to application for copyright registration, or two copies of the fixed object subject to the related right registration;

c) A power of attorney, if the person submitting dossiers for registration of copyright or related rights is an authorized person;

d) Documents proving the ownership of the right due to the creation or assignment of creation tasks, conclusion of creation contract, inheritance or transfer of right;

dd) Written consent of co-authors, for works under joint authorship;

e) Written consent of co-owners if the copyright or related rights are under joint ownership.

3. The documents specified at Point c, d, dd and e Clause 2 of this Article must be made in Vietnamese. Documents in other languages must be translated into Vietnamese.”.

15. To amend and supplement Article 52 as follows:

“Article 52. Time limit for granting registered copyright certificates or registered related right certificates

Within fifteen working days after the receipt of a valid dossier, the State management agency in charge of copyright and related rights shall have to grant a registered copyright certificate or registered related right certificate to the applicant. In case of refusal to grant registered copyright certificates or registered related right certificates, the state management agency in charge of copyright and related rights must notify and clearly state the reasons in writing to the applicants.”.

16. To amend and supplement Article 55 as follows:

“Article 55. Re-grant, renewal and invalidation of registered copyright certificates and registered related right certificates

1. Where a registered copyright certificate or registered related right certificate is lost or damaged, competent State agencies defined in Clause 2 Article 51 of this Law shall re-grant such registered copyright certificate or registered related right certificate within seven working days from the date of receipt of a valid dossier. In case of requesting for change of copyright or related right holder; information about the work, the author, the copyright holder; information about the subject matters of related rights and the holder of related rights, competent State agencies defined in Clause 2 Article 51 of this Law shall renew such registered copyright certificate or registered related right certificate within twelve working days from the date of receipt of a valid dossier.

In case of refusal to re-grant or renew the registered copyright certificate or registered related right certificate, the State management agency in charge of copyright and related rights must notify and clearly state the reasons in writing to the applicant.

2. Where a registered copyright certificate or registered related right certificate grantee is not the author, copyright holder or related right holder, or where the registered work, phonogram, video recording or broadcast is ineligible for protection, the competent State agency defined in Clause 2 Article 51 of this Law shall invalidate such registered copyright certificate or registered related right certificate.

3. Organizations and individuals that detect that the grant of registered copyright certificates and/or registered related right certificates is contrary to the provisions of this Law are entitled to request the State management agency in charge of copyright and related rights to invalidate such registered copyright certificates and registered related right certificates.

4. Within fifteen working days from the date of receipt of one of the following documents, competent State agencies shall issue a decision on invalidation of a registered copyright certificate or registered related right certificate:

a) An effective judgment or decision of a court or a decision of competent State agencies to handle acts of infringing upon intellectual property rights specified in Article 200 of this Law on invalidation of registered copyright certificates and registered related right certificates;

b) A written request from the organization or individual that has been granted a registered copyright certificate or registered related right certificate to invalidate the registered copyright certificate or registered related right certificate.

5. The Government shall detail this Article.”.

17. To amend and supplement the title of Chapter VI Part two as follows:

Chapter VI

COPYRIGHT AND RELATED RIGHTS COLLECTIVE REPRESENTATION,

CONSULTANCY AND SERVICE ORGANIZATIONS”.

18. To amend and supplement Article 56 as follows:

“Article 56. Organizations acting as collective representatives of copyright and related rights

1. Organizations acting as collective representatives of copyright and related rights are voluntary, self-funding and not-for-profit organizations established under agreements among authors, copyright holders and/or related right holders and operating according to the provisions of law for performing the authorization of copyright and related rights. The organizations are subject to the State management of the Ministry of Culture, Sports and Tourism in terms of collective representation of copyright and related rights.

2. Organizations acting as collective representatives of copyright and/or related rights shall conduct the following activities under written authorization by authors, copyright holders and/or related light holders:

a) Performing the management of copyright and/or related rights; conducting negotiations for licensing, collection and division of royalties and other material benefits from the exercise of authorized rights;

b) Protecting legitimate rights and interests of their members; organizing conciliations upon occurrence of disputes.

3. Organizations acting as collective representatives of copyright and/or related rights shall have the following rights and obligations:

a) To ensure publicity and transparency in management and administration activities of organizations acting as collective representatives of copyright and related rights with competent State agencies; authorizing authors, copyright holders, or related rights holders; institutional or individual exploiters or users;

b) To develop the list of authorizing authors, copyright and related rights holders; works, performances, phonograms, video recordings and broadcasts that are being managed by organizations acting as collective representatives of copyright and related rights; scope of authorization; the validity of authorization contracts; plans and results of the collection and division of royalties;

c) To develop the tariff and method of royalty payment and submit to the Minister of Culture, Sports and Tourism for approval. The Minister of Culture, Sports and Tourism shall approve the tariff and method of royalty payment based on the principles specified in Clause 3 Article 44a of this Law;

d) To collect and divide royalties according to the provisions of the organization's charter and power of attorney of authors, copyright holders, related right holders with an agreement on the rate or percentage, method and time of the royalty division, according to the principles of publicity and transparency as prescribed by law.

The collection and division of royalties from respective foreign or international organizations shall comply with the law on foreign exchange management;

dd) To retain an amount of the total royalties collected to pay for the performance of the organization's tasks on the basis of the agreement of authorizing authors, copyright or related right holders. The retained amount shall be adjusted on the basis of the agreement of authorizing authors, copyright or related right holders and may be determined as a percentage of the total royalties collected;

e) To divide royalties collected from the licensing of exploitation and use to authors, copyright or related rights holders after deducting the expenses specified at Point dd of this Clause;

g) To submit annually and irregular reports on collective representation activities to competent State agencies; be subject to inspection and examination by competent State agencies;

h) To conduct activities to support cultural development, creation-promoting activities and other social activities;

i) To cooperate, or sign reciprocal representation agreements with their counterparts in international and national organizations on the protection of copyright and related rights;

k) To set up the organizational structure of organizations acting as collective representatives of copyright and related rights, ensuring that the authorizing authors, copyright and related rights holders may stand for election to leadership, management and control positions of the organizations.

4. In case works, phonograms, video recordings or broadcasts are related to the rights and interests of many authorized organizations acting as collective representatives of copyright and related rights, the organizations may agree to have an organization to act on behalf of them to negotiate the licensing for use, collection and division of royalties according to the its charter and power of attorney.

5. After five years of searching for division of the collected royalties, if organizations acting as collective representatives of copyright and related rights have not yet found or contacted the authorizing authors, co-authors, copyright holders, related rights holders, co-holders of copyrights or related rights, the royalties, such amount shall be handed over to competent State agencies for management after deducting management and search expenses in accordance with this Law and relevant laws.

After receiving royalties, competent State agencies shall continue to notify the search for a period of five years. At the end of this period, if the competent State agencies still cannot find or contact authors, co-authors, copyright holders, related rights holders, co-holders of copyrights or related rights, and persons with related rights and obligations as prescribed by law, such amount shall be used for activities encouraging the creativity, propaganda and promotion of the enforcement of copyright and related right protection. Within the above-mentioned period, if authors, co-authors, copyright holders, related rights holders, co-holders of copyrights or related rights, and persons with related rights and obligations are found or contacted, the money amount, after deducting search and management expenses, shall be paid to the above-mentioned persons in accordance with the law.

6. The Government shall detail this Article.”.

19. To amend and supplement Clause 1 Article 60 as follows:

“1. An invention shall be considered novel if it does not fall into one of the following cases:

a) Being publicly disclosed through use or by means of a written description or any other form, inside or outside the country, before the filing date or the priority date, as applicable, of the invention registration application.

b) Being disclosed in another invention registration application with an earlier filing date or priority date but published on or after the filing date or priority date of the invention registration application.”.

20. To amend and supplement Clause 1 Article 72 as follows:

“1. Being a visible sign in the form of letters, words, drawings or images, holograms, or a combination thereof, represented in one or more colors, or a sound mark represented graphically;”.

21. To amend and supplement number of Clauses of Article 73 as follows:

a) To amend and supplement Clause 1 as follows:

“1. Signs identical with or confusingly similar to National Flags or National Emblems, Anthems of the Socialist Republic of Vietnam and other countries, Internationale;”;

b) To add Clauses 6 and 7 after Clause 5 Article 73 as follows:

“6. Signs are the inherent shape of the goods or are required by the technical characteristics of the goods;

7. Signs contain copies of works, except for the cases obtaining the permission from the owners.”.

22. To amend and supplement a number of Points of Clause 2 Article 74 as follows:

a) To amend and supplement Points a, b and c as follows:

“a) Simple shapes and geometric figures, numerals, letters or scripts of uncommon languages, except where such signs have been widely used and recognized as a mark before the date of filing of applications;

b) Conventional signs or symbols, pictures or common names in any language, the usual shape of the goods or part of the goods, the usual shape of the package or container that have been widely and regularly used and known to many people before the date of filing of applications;

c) Signs indicating time, place and method of production, category, quantity, quality, properties, ingredients, intended utility, value or other characteristics, which is descriptive of goods or services or signs substantially increasing value to the good, except where such signs have acquired distinctiveness through use before the date filing of applications;”;

b) To amend and supplement Points dd and e as follows:

“dd) Signs indicating the geographical origin of goods or services, except where such signs have been widely used and recognized as a trademark before the date of filing of applications or registered as collective trademarks or certification trademarks as provided for in this Law;

e) Signs identical with or confusingly similar to trademarks of other organizations or individuals that are protected for identical or similar goods or services on the basis of the application with an earlier filing date or priority date in case the application enjoys priority, including trademark registration applications filed under treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party, except such trademark registration has it validity terminated under Point d Clause 1 Article 1 of Article 95 or is invalidated under Article 96 according to the procedures specified at Point b Clause 3 Article 117 of this Law;”;

c) To amend and supplement Points dd and i as follows:

“h) Signs identical with or confusingly similar to trademark of other organizations or individuals which has been protected for identical or similar goods or services, the registration certificate of which has been invalidated for no more than 3 years, except where such trademark registration is terminated according to the provisions of Point d, Clause 1 Article 95 according to the procedures specified at Point b Clause 3 Article 117 of this Law;

i) Signs identical with or confusingly similar to another person's trademark recognized as a well-known one before the date of filing a registration application for goods or services which are identical with or similar to those bearing such well-known trademark, or for dissimilar goods or services if the use of such trademark may affect the distinctiveness of the well-known trademark or the trademark registration is aimed at taking advantage of the reputation of the well-known mark;”;

d) To amend and supplement Point n and add Points o and p after Point n as follows:

“n) Signs identical with or insignificantly different from another person's industrial design which has been or are being protected on the basis of an industrial design registration application with the filing date or priority date earlier than that of the trademark registration application;

o) Signs identical with or confusingly similar to names of plant varieties which has been or are being protected in Vietnam if such signs are registered for the goods being plant varieties of the same or similar species or goods harvested from plant varieties;

p) Signs identical with or confusingly similar to names and images of characters or images in works subject to the copyright protection of others that were widely known prior to the filing date, except for the cases of obtaining permission from owners of the works.”.

23. To amend and supplement the first paragraph of Article 75 as follows:

“The consideration and assessment of a trademark as well-known is selected from some or all of the following criteria:”.

24. To amend and supplement Article 79 as follows:

“Article 79. General conditions for geographical indications eligible for protection

1. A geographical indication shall be protected when it satisfies the following conditions:

a) The product bearing the geographical indication originates from the area, locality, territory or country corresponding to such geographical indication;

b) The product bearing the geographical indication has a reputation, quality or characteristics mainly attributable to geographical conditions of the area, locality, territory or country corresponding to such geographical indication.

2. A homonymous geographical indication satisfying the conditions specified in Clause 1 of this Article shall be protected if such geographical indication is actually used in a way that does not mislead consumers as to the geographical origin of a product bearing the geographical indication and ensures the principle of fair treatment between organizations, individuals producing products bearing such geographical indication.”.

25. To amend and supplement Article 86 and add Article 86a after Article 86 as follows:

“Article 86. The right to register inventions, industrial designs and layout-designs

1. The following organizations and individuals shall have the right to register inventions, industrial designs and layout-designs:

a) Authors who have created inventions, industrial designs or layout-designs with their own efforts and expenses;

b) Organizations or individuals who have supplied funds and material facilities to authors in the form of job assignment or hiring, organizations and individuals assigned to manage genetic resources provide genetic resources and traditional knowledge about genetic resources under contracts to access genetic resources and benefit sharing, unless otherwise agreed by the parties or in the case specified in Article 86a of this Law.

2. Where more than one organization or individual have jointly created or invested in the creation of an invention, industrial design or layout-design, these organizations or individuals shall all have the registration right, which shall only be exercised with their consensus.

3. An organization or person who has the registration right as provided in this Article may assign that right to other organizations or individuals in the form of a written contract, bequeathal or inheritance in according to the provisions of law, even where a registration application has been filed.

Article 86a. The right to register inventions, industrial designs and layout-designs being results of State budget-funded scientific and technological tasks

1. For inventions, industrial designs and layout designs that are the result of scientific and technological tasks wholly funded by the State budget, the right to register inventions, industrial designs and layout-designs shall be automatically assigned to the presiding organization without reimbursement, except for the cases specified in Clause 3 of this Article.

2. For inventions, industrial designs and layout-designs that are the result of scientific and technological tasks funded with several capital sources, including the State budget, the part of the right to register inventions, industrial designs and layout-designs corresponding to the proportion of the State budget shall be automatically assigned to the presiding organization without reimbursement, except for the cases specified in Clause 3 of this Article.

3. The right to register inventions, industrial designs and layout-designs being results of State budget-funded scientific and technological tasks in the field of national defense and security shall be implemented as follows:

a) For scientific and technological tasks wholly funded by the State budget, the right to register inventions, industrial designs and layout-designs shall belong to the State;

b) For scientific and technological tasks funded with several sources of capital, including the State budget, the part of the right to register inventions, industrial designs and layout-designs corresponding to the proportion of the State budget shall belong to the State;

c) The State owner's representative shall exercise the registration rights specified at Points a and b of this Clause.

4. The Government shall detail this Article.”.

26. To amend and supplement Article 88 as follows:

“Article 88. Right to register geographical indications

1. The right to register Vietnamese geographical indications belongs to the State. The State allows organizations and individuals producing products bearing geographical indications, collective organizations representing such organizations or individuals or administrative management agencies of localities to which such geographical indications pertain to exercise the right to register such geographical indications. Organizations and individuals who exercise the right to register geographical indications shall not become owners of such geographical indications.

2. Foreign organizations and individuals who are right holders toward geographical indications under the law of the country of origin shall have the right to register such geographical indications in Vietnam.”.

27. To add Article 89a after Article 89 as follows:

“Article 89a. Security control of inventions before filing registration applications in other countries

1. Inventions in the technical fields affecting national defense and security, that are created in Vietnam and under the right of registration of individuals being Vietnamese citizens and permanently residing in Vietnam or of organizations established under Vietnamese law may only file an invention registration application in other countries if the invention registration applications have been submitted in Vietnam to carry out security control procedures.

2. The Government shall detail Clause 1 of this Article.”.

28. To amend and supplement Clause 2 Article 92 as follows:

“2. Protection titles of geographical indications shall record organizations managing geographical indications, protected geographical indications, particular characteristics of products bearing such geographical indications, particular characteristics of geographical conditions and geographical areas bearing such geographical indications.”.

29. To add Clauses 8 and 9 after Clause 7 Article 93 as follows:

“8. International registration of trademarks under the Madrid Protocol and Agreement on international registration of trademarks with the designation of Vietnam shall take effect from the date on which the State management agencies in charge of industrial property rights issue a decision on accepting protection for trademarks in that international registration or from the day following the date of expiration of a twelve-month period counting from the date the International Bureau issues the notice of international registration of the trademarks with the designation of Vietnam, whichever is earlier. The validity period of international registration of trademarks shall be calculated according to the provisions of the Madrid Protocol and Agreement.

9. International registration of industrial designs under the Hague Agreement on international registration of industrial designs with the designation of Vietnam shall take effect from the date on which the State management agencies in charge of industrial property rights issue a decision on accepting protection for industrial designs in that international registration or from the day following the date of expiration of the six-month period counting from the date the International Bureau issues the notice of international registration of the industrial designs, whichever is earlier. The validity period of international registration of industrial designs shall be calculated according to the provisions of the Hague Agreement.”.

30. To amend and supplement Article 95 and Article 96 as follows:

“Article 95. Termination of validity of protection titles

1. The validity of a protection title shall be wholly or partially terminated in the following cases:

a) Its owner fails to pay the validity maintenance or prolongation fee or charge as prescribed;

b) Its owner declares to relinquish the industrial property rights;

c) Its owner no longer exists or the owner of a certificate of registered trademark is no longer engaged in business activities without any lawful heir;

d) The trademark has not been used by its owner or his/her licensee without justifiable reasons for 5 consecutive years prior to a request for termination of validity, except where the use is commenced or resumed at least 3 months before the request for termination;

e) The owner of a certificate of registered collective trademark fails to supervise or ineffectively supervises the implementation of the regulation on use of collective trademarks;

f) The owner of a certificate of registered certification trademark violates the regulation on use of certification trademarks or fails to supervise or ineffectively supervises the implementation of such regulation;

g) The geographical conditions decisive to reputation, quality or special characteristics of products bearing a geographical indication have changed resulting in the loss of such reputation, quality or characteristics of products;

h) The use of protected trademarks for goods or services by trademark owners of a person authorized by the trademark owners causes consumers to misunderstand the nature, quality or geographical origin of such goods or services;

i) The protected trademark becomes the common name of goods or services registered for that trademark;

k) The geographical indication of a foreign country is no longer protected in the country of origin.

2. Where the owner of a patent or utility solution patent fails to pay the validity maintenance fee or charge before the set time limit, the validity of such patent shall, upon the expiration of such time limit, automatically terminate as from the first day of the first valid year for which the validity maintenance fee or charge has not been paid.

Where the owner of a patent or utility solution patent fails to pay the validity maintenance fee or charge before the set time limit, the validity of such patent shall, upon the expiration of such time limit, automatically terminate as from the first day of the following valid period for which the validity maintenance fee or charge has not been paid.

The State management agency in charge of industrial property rights shall record such termination in the National Register of Industrial Property and publish it in the Official Gazette of Industrial Property.

3. Where the owner of a protection title declares to relinquish industrial property rights provided for at Point b Clause 1 of this Article, the State management agency in charge of industrial property rights shall consider and decide to terminate the validity of such protection title;

4. Organizations and individuals shall have the right to request the state management agency in charge of industrial property rights to terminate the validity of protection titles in cases specified at Points c, d, dd, e, g, h, i and k Clause 1 of this Article, provided that they have paid fees and charges.

5. Based on the result of the examination of requests for termination of validity of protection titles for the cases specified in Clauses 3 and 4 of this Article and involved parties' opinions, the State management agency in charge of industrial property rights shall notify the refusal to terminate the validity of protection titles or issue decisions on termination of part or all validity of protection titles.

6. For the cases specified at Points c, d, dd, e, g, h and i Clause 1 of this Article, the validity of protection titles shall be terminated from the date the State management agency in charge of industrial property rights issues a decision on invalidation of the protection titles.

For the cases specified at Point k Clause 1 of this Article, the validity of protection titles shall be terminated from the date the geographical indication is no longer protected in the country of origin.

In case the State management agency in charge of industrial property rights issues a decision to terminate the validity of protection titles as prescribed in Clause 3 of this Article, the validity of protection titles shall be terminated from the date the State management agency in charge of industrial property rights receives a written declaration from protection title holders.

7. The provisions of Clauses 1, 2, 3, 4, 5 and 6 of this Article shall also apply to the termination of validity of international registrations of trademarks and industrial designs.

Article 96. Invalidation of protection titles

1. A protection title shall be entirely invalidated in the following cases:

a) Applicants for registration of trademarks with malicious intent;

b) Invention registration applications are filed contrary to the regulations on security control of inventions specified in Article 89a of this Law;

c) Invention registration applications for inventions which are directly created based on genetic resources or traditional knowledge about genetic resources but fail to disclose or incorrectly disclose the origin of genetic resources or traditional knowledge about genetic resources in the applications.

2. A protection title shall be wholly or partly invalidated if the entire or part of such protection title fails to satisfy the provisions of this Law on registration rights, protection conditions, amendments and supplements to the application, invention disclosure, initial filing principle in the following cases:

a) The registration applicant has neither had nor been assigned the right by persons with the right to registration to register an invention, industrial design, layout-design or trademark;

b) The subject matter of industrial property fails to satisfy the protection conditions specified in Articles 8 and Chapter VII of this Law;

c) Any amendment or supplement to an industrial property registration application expands the scope of the subject matter already disclosed or stated in such application or changes the nature of the subject matter subject to registration stated in the application and must ensure the uniformity of the application;

d) The invention must not fully and clearly disclose its nature to the extent that such invention may be realized by a person with average knowledge in the art;

dd) Inventions with protection title in exceed of the scope of disclosure in the initial description of invention registration applications;

e) Inventions fail to satisfy the initial application filing principle specified in Article 90 of this Law.

3. A protection title shall be wholly or partly invalidated specified in Clauses 1 and 2 of this Article, the entire or a part of such invalidation shall not take effect from the time the protection title is granted.

4. Organizations and individuals may request the State management agency in charge of industrial property rights to invalidate protection titles in the cases specified in Clauses 1 and 2 of this Article, provided that they pay fees and charges.

The statute of limitations for exercising the right to request invalidation of protection titles shall be the entire protection duration. For the case of request for invalidation of protection titles for trademarks for the reasons specified in Clause 2 of this Article, the statute of limitations shall be five years from the date of grant of the protection titles or from the effective date of the international registration of the trademarks in Vietnam.

5. Based on the result of the examination of request for invalidation of a protection title and involved parties' opinions, the State management agency in charge of industrial property rights shall issue a decision on invalidation of the protection title or notify the refusal to invalidate it.

6. The provisions of Clauses 1, 2, 3, 4 and 5 of this Article shall also apply to the invalidation of international registrations of trademarks and industrial designs.

7. The Minister of Science and Technology shall detail Clause 1 and Clause 2 of this Article.”.

31. To amend and supplement Clauses 1 and 2 Article 97 as follows:

“1. The owner of a protection title, organizations and individuals performing the right to register geographical indications specified in Article 88 of this Law may request the State management agency in charge of industrial property rights to make amendments to the following information in such protection title, provided that the prescribed fees and charge are paid:

a) Modifications, error corrections in relation to the name and nationality of the author, the name and address of the protection title owner or the organization managing the geographical indications;

b) Amendments to the description of particular characteristics, quality or geographical area bearing a geographical indication; amendments to the regulation on use of collective trademarks or the regulation on use of a certification mark.

2. At the request of the owner of a protection title, organization or individual performing the right to register geographical indications, the State management agency in charge of industrial property rights shall have to correct errors caused at its fault in such protection title. In this case, the owner of a protection title, organization odd individual performing the right to register geographical indications shall not be required to pay fees and charges.”.

32. To add Point dd1 after Point dd Clause 1 Article 100 as follows:

“dd1) Documents explaining the origin of genetic resources or traditional knowledge about genetic resources in a invention registration application, for inventions directly created based on genetic resources or traditional knowledge about genetic resources;”.

33. To amend and supplement Article 103 as follows:

“Article 103. Requirements on industrial design registration applications

1. Documents identifying an industrial design registered for protection in an industrial design registration application comprise a set of photos, drawings of such industrial design and a description of industrial design shown in the set of photos, drawings.

2. A set of photos, drawings of industrial design must fully disclose all features of the industrial design claimed for protection to the extent that based on that, a person with average knowledge of the respective field can identify that industrial design.

3. A description of industrial design shown in the set of photos, drawings must list the order of the photos and drawings in the set of photos, drawings and features of the industrial design.

34. To amend and supplement Clause 2 Article 105 as follows:

“2. The sample of the trademark must be described in order to clarify elements of the trademark and the comprehensive meaning of the trademark, if any; where the trademark consists of words or phrases of hieroglyphic languages, such words or phrases must be transcribed; where the trademark consists of words or phrases in languages other than Vietnamese, such words or phrases must be translated into Vietnamese; where the trademark consists of sounds, the sample of the trademark must be sound and a graphical representation of the sound.”.

35. To add Point e after Point dd Clause 1 Article 106 as follows:

“e) For homonymous geographical indications, documents explaining the conditions for use and manner of presenting the geographical indications to ensure the distinction between geographical indications.”.

36. To add Clause 3 after Clause 2 Article 108 as follows:

“3. Applications for registration of confidential inventions shall be made in accordance with the Government's regulations”

37. To amend and supplement Point dd, and add Point e after Point dd Clause 2 Article 109 as follows:

“dd) Applicants fail to fully pay the prescribed fees and charges;

 e) Invention registration applications are filed contrary to the regulations on security control of inventions specified in Article 89a of this Law.”.

38. To amend and supplement the title of Article 110 and a number of Clauses of Article 110 as follows:

a) To amend and supplement the title as follows:

“Article 110. Publication of trademark registration applications and industrial property registration applications”;

b) To add Clause 1a before Clause 1 as follows:

“1a. A trademark registration application that has not been duly accepted by State management agencies in charge of industrial property rights shall be made public immediately upon receipt.”;

c) To amend and supplement Clause 3 as follows:

“3. An industrial design registration application, a trademark registration application or a geographical indication registration application shall be published within 2 months as from the date such application is accepted as being valid. An industrial design registration application may be published at a later date at the request of the applicant at the time of filing but not later than seven months from the filing date.”.

39. To amend and supplement Article 112 and add Article 112a after Article 112 as follows:

“Article 112. Third party's opinions on the grant of protection titles

As from the date an industrial property registration application is published in the Official Gazette of Industrial Property till prior to the date of issuance of a decision on grant of a protection title, any third party shall have the right to express opinions to the concerned state management agency in charge of industrial property rights on the grant or refusal to grant a protection title in respect of such application. Such opinions must be made in writing and be accompanied by documents or must quote the source of information.

The written opinion of third parties shall be considered as a source of reference information for the processing of industrial property applications.

Article 112a. Objections of industrial property registration applications

1. Before the date of issuance of the decision to grant a protection title, within the following time limits, any third party may object to the grant of the protection title:

a) 9 months from the date the registration application for inventions is published;

b) 4 months from the date the registration application for industrial designs is published;

c) 5 months from the date the registration application for trademarks is published;

d) 3 months from the date the registration application for geographical indication is published.

2. Objections specified in Clause 1 of this Article must be made in writing, enclosed with documents or cited as sources of information for proof, and must pay fees and charges.

3. State management agencies in charge of industrial property rights shall handle objections specified in Clause 2 of this Article according to the order and procedures prescribed by the Minister of Science and Technology.”.

40. To add Clauses 3 and 4 after Clause 2 Article 114 as follows:

3. State management agencies in charge of industrial property rights may use appraisal results of the invention registration application that is identical with the claimed invention conducted by a foreign patent office during the patentability assessment.

4. The Minister of Science and Technology shall detail the use of appraisal results of the invention registration application specified in Clause 3 of this Article.”.

41. To amend and supplement Clause 2 Article 116 as follows:

“2. As from the time the applicant declares the withdrawal of the application, all further procedures related to such application shall be stopped.”.

42. To amend and supplement number of Clauses of Article 117 as follows:

a) To amend and supplement Clause 1 and add Clause 1a after Clause 1 as follows:

“1. The grant of a protection title for an invention, industrial design, trademark or geographical indication registration application shall be refused in the following cases:

a) There are grounds to affirm that the subject matter stated in the application does not fully satisfy the protection conditions;

b) There are grounds to affirm that the applicant does not have the right to register subject matters of industrial property rights or register trademarks with malicious intent;

c) The application satisfies the conditions for the grant of a protection title but is not with the earliest filing date or priority date as in the case specified in Clause 1 and Clause 2 Article 90 of this Law;

d) The application falls into a case specified in Clause 3 Article 90 of this Law but fails to get the consensus of all applicants;

dd) Any amendment or supplement to an application expands the scope of the subject matter already disclosed or stated in such application or changes the nature of the subject matter subject to registration stated in the application and must ensure the uniformity of the application.

1a. Except for the cases specified in Clause 1 of this Article, an invention registration application shall be refused to grant a protection title in the following cases:

a) The invention claims protection in exceed of the scope of disclosure in the original description of the invention registration application;

b) The invention is not fully and clearly disclosed in its description to the extent that such invention may be realized by a person with average knowledge in the art;

c) For inventions which are directly created based on genetic resources or traditional knowledge about genetic resources, the invention registration application fails to disclose or incorrectly discloses the origin of genetic resources or traditional knowledge about genetic resources;

d) An invention registration application is filed contrary to the regulations on security control for inventions specified in Article 89a of this Law.”;

b) To amend and supplement Clause 3 as follows:

“3. Where an industrial property registration application falls into the cases specified in Clauses 1, 1a and 2 of this Article, the concerned State management agency in charge of industrial property rights shall carry out the following procedures:

a) Notifying the appraisal results, clearly stating the intention to refuse for grant of the protection title, the reason and setting a time limit for the applicant to object to the intended refusal;

b) Suspending the appraisal process of the application if the applicant submits a request to suspend the appraisal of the application and requests the termination of validity or invalidation of the certificates of registered trademark specified at Points e and h Clause 2 Article 74 of this Law. Based on the results of settlement of a request for termination of validity or invalidation of the certificates of registered trademark, the State management agency in charge of industrial property rights shall continue the appraisal process of the application;

c) Suspending the appraisal process of the application if receiving a copy of the notice of acceptance of the case by the competent court about the lawsuit filed by a third party related to the right to register subject matters of industrial property rights or a registered trademark with malicious intent. Based on the court's settlement results, the State management agency in charge of industrial property rights shall continue the appraisal process of the application;

d) Deciding to refuse to grant a protection title if the applicant makes no objection or makes unjustifiable objection to such intended refusal mentioned at Point a of this Clause.”.

43. To amend and supplement Article 118 as follows:

“Article 118. Grant of protection titles, entry into the register

1. Where an industrial property registration application does not fall into the cases of refusal to grant protection titles specified in Clauses 1, 1a and 2, Point b Clause 3 Article 117 of this Law or the applicant has a reasonable objection to the intended refusal specified at Point a Clause 3 Article 117 of this Law, the State management agency in charge of industrial property rights shall perform the following tasks:

a) Notifying the appraisal results, clearly stating the intention to grant a protection title for the entire or part satisfying the protection conditions and setting a time limit for the applicant to pay fees or charges or objections to the results of content appraisal;

b) Deciding to grant a protection title and recording it in the National Register of Industrial Property if the applicant pays fees and charges.

2. Where there appears an objection to the appraisal results, the relevant industrial property registration application shall be re-examined with regard to the matters against which the objection is made.”.

44. To add Article 119a after Article 119 of Section 3 Chapter VIII as follows:

“Article 119a. Complaints and settlement of complaints related to industrial property procedures

1. Applicants and organizations and individuals with rights and interests directly involved in decisions or notices, relating to the processing of registration applications for establishment of rights, maintenance, extension, amendment, termination and cancellation of the validity of industrial property protection titles, registration for industrial property right transfer contracts promulgated by the State management agencies in charge of industrial property rights, are entitled to complain to State management agencies in charge of industrial property rights or initiate a lawsuit at the court in accordance with this Law and relevant laws.

2. Vietnamese organizations and individuals, foreign individuals permanently residing in Vietnam and foreign organizations or individuals having production or business establishments in Vietnam shall submit the written complaints either directly or through their lawful representatives in Vietnam. Foreign individuals not permanently residing in Vietnam, foreign organizations or individuals having no production or business establishments in Vietnam shall submit the written complaints through their lawful representatives in Vietnam.

3. Complaint contents must be presented in writing, clearly stating the full name and address of the complainant; official number, signing date, contents of the decision or notification on complaint; complaint contents, argument and proof of the complaint; specific request for the amendment or cancellation of relevant decisions or notices. The submitted complaint must be made in writing or electronic form according to the online application submission system.

4. In case where the complaint related to the registered right or other contents that must be re-appraised, the complainant must re-pay appraisal charge.

5. The time limit for settlement of complaints must comply with the law on complaints. In case where the State management agencies in charge of industrial property rights re-appraise the cases mentioned in Clause 4 of this Article or the complainant amends or supplements the complaint dossier, the duration for re-appraisal and amendment and supplementation of such dossier shall not be included in the period for settlement of complaints in accordance with the law on complaints.

The time limit for re-appraisal shall comply with Clause 3 Article 119 of this Law.

6. The complaint and settlement of complaints that are not mentioned in this Article must comply with the law on complaints.”.

45. To amend and supplement number of Clauses of Article 121 as follows:

a) To amend and supplement Clause 1 as follows:

“1. Owners of inventions or layout-designs mean organizations or individuals that are granted by the competent agency protection titles for respective industrial property objects.

Owners of industrial designs mean organizations or individuals that are granted by the competent agency industrial design protection titles or those who have internationally-registered industrial designs recognized by competent agencies.

Owners of trademarks mean organizations or individuals that are granted by the competent agency protection titles for such marks or have internationally registered marks as recognized by the competent agency or have well-known marks.”;

b) To amend and supplement Clause 4 as follows:

“4. The owner of Vietnam's geographical indications is the State.

The State shall grant the right to use geographical indications to organizations or individuals that turn out products bearing such geographical indications in relevant localities and put such products on the market. The State shall directly exercise the right to manage geographical indications or grant that right to organizations representing the interests of all organizations or individuals granted with the right to use geographical indications.

The Government shall specify the performance of geographical indication management right.”.

46. To amend and supplement Clause 2 Article 123 as follows:

“2. Organizations or individuals granted with the right to manage geographical indications under Clause 4 Article 121 of this Law or under the law of the country where the geographical indications originate may ban others from use such geographical indications in accordance with Point b Clause 1 of this Article.”.

47. To amend and supplement Point b Clause 5 Article 124 as follows:

“b) Selling, offering, advertising for sale, displaying for sale, stocking for sale or transporting goods bearing the protected trademark; “.

48. To amend and supplement Point b Clause 2 Article 125 as follows:

“b) Circulating, importing, exploiting utilities of products used by owners or right transferees, including transferring the right under compulsory decisions, persons with the prior use right of industrial property objects under this Law, that have been lawfully put on the market, including overseas markets; “.

49. To amend and supplement Article 128 as follows:

“Article 128. Obligation to keep secret test data

1. Where the law requires applicants for licenses for circulating pharmaceuticals or agro-chemical products to supply test results or any other data being business secrets obtained by investment of considerable efforts, and where applicants request such data to be kept secret, the competent licensing agency shall be obliged to apply necessary measures so that such data are neither used for unhealthy commercial purposes nor disclosed, except where the disclosure is necessary to protect the public.

2. Regarding pharmaceuticals, from the submission of secret data in applications to the competent agency mentioned in Clause 1 of this Article to the end of a 5-year period as from the date the applicants are granted licenses, such agency must not grant licenses to any subsequent applicants in whose applications the said secret` data are used without the consent of submitters of such data, except for the cases specified at Point d, Clause 3, Article 125 of this Law.

3. In case where the agency competent to grant licenses for circulation of pharmaceuticals allows the applicant to lately submit application, based on the fact that one pharmaceutical has been granted circulation license or based on the data proving the safety and efficiency of one pharmaceutical already been granted circulation license for application of license for circulating another pharmaceutical, such competent agency must announce on its e-portal or website information on the lately-submitted application within 5 months before the pharmaceutical mentioned in the application is granted circulation license, except for the cases where the circulation license must be granted earlier in accordance with relevant laws.

4. Regarding agro-chemical products, from the submission of secret data in applications to the competent agency mentioned in Clause 1 of this Article to the end of a 10-year period as from the date the applicants are granted licenses, such agency must not grant licenses to any subsequent applicants in whose applications the said secret data are used, or based on the fact that the applicants of the above-mentioned secret data are granted circulation licenses without the consent of submitters of such data, except for the cases specified at Point d Clause 3 Article 125 of this Law, or the license grant is necessary to protect national defense, security, and nutrition for the citizens, or to meet other social essential needs.”.

50. To amend and supplement Point d Clause 1 Article 130 as follows:

“d) Possessing or using domain names identical with, or confusingly similar to, protected trade names or trademarks of others, or geographical indications without having the right to use, for bad purposes, or for the purpose of taking advantage of the reputation of the corresponding trademarks, trade names or geographical indications for illegal profits.”.

51. To add Article 131a after Article 131 of Section 1 Chapter IX Part three as follows:

“Article 131a. Compensation for owners of inventions due to delay in grant licenses for pharmaceutical circulation

“1. When carrying out procedures for maintaining the validity of the patents, the patent owner is not required to pay charges for use of protection titles for duration when the procedures for initial circulation registration of pharmaceuticals manufactured according to such patents in Vietnam are delayed.

2. Procedures for registration for circulation of pharmaceuticals shall be considered delayed if past the period of 2 years, from the date of receiving complete dossiers for circulation registration, but the agency competent to grant licenses for pharmaceutical circulation fails to issue the initial response in writing for such dossiers. The delayed period shall be counted from the first day after ending the period of 2 years from the agency competent to grant licenses for pharmaceutical circulation receives complete dossiers until the first response is issued.

3. The delayed period due to the applicants’ mistakes or reasons beyond the control of the competent State agency shall not be included in the period prescribed in Clause 2 of this Article.

4. In case the patent owner has paid charges for use of protection titles for the period considered delayed, the paid amount shall be deducted to the next period of maintaining validity or refunded.

5. To be exempted from charges for use of protection titles as prescribed in Clause 1 of this Article, within 12 months from the date pharmaceuticals are granted licenses for circulation, the patent owners must submit the certification of the delay in procedures for pharmaceutical circulation registration of the agency competent to grant licenses for pharmaceutical circulation to the State management agency in charge of industrial property rights.

6. The Government shall detail this Article.”.

52. To add Article 133a after Article 133 as follows:

“Article 133a. Rights of the State toward inventions, industrial designs and layout-designs being results of State budget-funded scientific and technological tasks

1. The State owner representative shall publicly notify within 90 days to transfer the right to register inventions, industrial designs and layout-designs that are results of State budget-funded scientific and technological tasks to organizations or individuals in need in the following cases:

a) Organizations presiding the scientific and technological tasks fail to perform the notification obligation in accordance with Clause 1 Article 136a of this Law;

b) Organizations presiding the scientific and technological tasks send a report to the State owner representative of the fact that there is no demand for registration;

c) Organizations presiding the scientific and technological tasks fail to submit an invention, industrial design or layout-design registration application within the period prescribed in Clause 2 Article 136a of this Law.

2. In case of failing to transfer the registration right to an organization or individual in need under Clause 1 of this Article, the State owner representative shall publicly announce contents of an invention, industrial design or layout-design being results of a State budget-funded scientific and technological task on the e-portal or website of the organization managing the scientific and technological task.

3. The competent State agencies may permit other organizations and individuals using inventions, industrial designs and layout-designs which are results of State budget-funded scientific and technological tasks without permission from the exclusive right holders in the following cases:

a) The exclusive right holders fail to take effective measures in an appropriate period in order to use inventions, industrial designs or layout-designs that are results of scientific and technological tasks of which more than 30% of the total capital is sponsored by the State;

b) Where the use is for public and non-commercial purposes or in service of national defense, security, disease prevention and treatment and nutrition assurance for people or other urgent needs of the society.

4. The payment of compensation for the exclusive right holders when the competent State agency permits other organizations or individuals to use inventions, industrial designs or layout-designs under Clause 3 of this Article shall be carried out as follows:

a) For an invention, industrial design or layout-design that is result of a scientific and technological task wholly funded by the State budget, organizations or individuals permitted to use such invention, industrial design or layout-design are not required to pay compensation;

b) For an invention, industrial design or layout-design that is result of a scientific and technological task funded by different capital sources, including the State budget, organizations or individuals permitted to use such invention, industrial design or layout-design are not required to pay compensation for the use right portion corresponding to the portion invested by the State budget, but must pay compensation for the use right portion corresponding to the remaining investment. The compensation paid to the exclusive right holder shall be determined in accordance with Point d Clause 1 Article 146 of this Law.

5. The Government shall detail this Article.”.

53. To amend and supplement Article 135 as follows:

“Article 135. Obligation to pay remunerations to authors of inventions, industrial designs or layout-designs

1. Except for the cases specified in Clause 2 of this Article, owners of inventions, industrial designs or layout-designs are obligated to pay remunerations to their authors as agreed. In case of absence of agreement, the remuneration payable to an author shall be as follows:

a) 10% of the pre-tax profit amount gained by the owner from the use of an invention, industrial design or layout-design;

b) 15% of total amount received by the owner in each payment for transferring the right to use an invention, industrial design or layout-design before paying tax as prescribed.

2. For an invention, industrial design or layout-design that is result of a State budget-funded scientific and technological task, the remuneration payable by an owner to the author is provided as follows:

a) From 10% to 15% of the pre-tax profit amount gained by the owner from the use of an invention, industrial design or layout-design;

b) From 15% to 20% of total amount received by the owner in each payment for transferring the right to use an invention, industrial design or layout-design before paying tax as prescribed.

3. For an invention, industrial design or layout-design under joint authorship, the remuneration prescribed in Clauses 1 and 2 of this Article is the one applicable to co-authors. Co-authors shall reach an agreement on distributing the remuneration payable by the owner.

4. The obligation to pay remunerations to authors of inventions, industrial designs or layout-designs shall exist throughout the term of protection of such inventions, industrial designs or layout-designs.”.

54. To add Article 136a after Article 136 as follows:

“Article 136a. Obligations of presiding organizations toward inventions, industrial designs and layout-designs being results of State budget-funded scientific and technological tasks

1. Notifying the State owner representatives within 30 days, from the date on which the inventions, industrial designs and layout-designs being results of State budget-funded scientific and technological tasks are created.

2. Submitting registration applications for establishment of rights over inventions, industrial designs and layout-designs that are results of State budget-funded scientific and technological tasks in Vietnam within 6 months, from the date of sending notification to the State owner representatives.

3. Paying remunerations to authors of inventions, industrial designs and layout-designs as provided for in Article 135 of this Law.

4. For a scientific and technological task of which up to 30% of the total capital is sponsored by the State, the after-tax profits, that are gained from the use, transfer or licensing of rights, or capital contribution by patents, industrial designs or layout-designs corresponding to the State's capital contribution portion after paying remunerations to authors, shall be used according to the financial management regulations of the managing organization.

5. For a scientific and technological task of which more than 30% of the total capital is sponsored by the State, the distribution of after-tax profits, that are gained from the use, transfer or licensing of rights, or capital contribution by patents, industrial designs or layout-designs being results of State budget-funded scientific and technological tasks after paying remunerations to authors, shall be used as follows:

a) To pay an amount not exceeding 10% of the remaining profits to the broker (if any) in accordance with the brokerage contract;

b) In case the scientific and technological tasks are wholly funded by the State budget, at least 50% of the remaining profits shall be used as an investment in science and technology activities; the rest shall be used in accordance with the financial management regulations of the managing organization;

c) In case the scientific and technological tasks are funded by different sources, the remaining profits shall be distributed to parties in corresponding to the capital portion contributed to such scientific and technological tasks. The profits corresponding to the State’s capital contribution portion shall be used by the presiding organization under Point b of this Clause.

6. The presiding organizations granted patents or protection titles for industrial designs or layout-designs that are entitled to register in accordance with Clauses 1 and 2 Article 86a of this Law are obligated to perform industrial property rights as prescribed, take protection measures and submit annual reports on the performance of rights, application of protection measures and profit distribution to the agencies managing scientific and technological tasks.

7. The Government shall detail this Article.”.

55. To add Clause 6 after Clause 5, Article 139 as follows:

“6. The rights to inventions, industrial designs and layout-designs that are results of scientific and technological tasks funded by the State budget may only be transferred to organizations established under Vietnamese law, individuals being Vietnamese citizens and permanently residing in Vietnam. Organizations and individuals that receive the transfer of the ownership must perform the respective obligations of the presiding organizations in accordance with this Law.”.

56. To add Point dd after Point d, Clause 1, Article 145 as follows:

“dd) Where the use of inventions for the needs of pharmaceuticals for disease prevention and treatment of other countries that are eligible for import under treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party.”.

57. To amend and supplement a number of points of Clause 1, Article 146 as follows:

a) To amend and supplement Point b as follows:

“b) Such transferred use right is only limited to a scope and duration so that it is sufficient to achieve the transferring objectives, except for cases specified at Point d, Clause 1, Article 145 of this Law. For an invention in semi-conductor technology, the transfer of the use of invention shall be only for public and non-commercial purposes or for handling of anti-competition practices according to the law regulations on competition;”;

b) To amend and supplement Point d and add Point dd after Point d as follows:

“d) The transferee shall have to pay the holder of exclusive right to use the invention a compensation under the agreement, or in accordance with the Government’s regulations in cases of failing to reach an agreement; except for cases where the right to use the invention is transferred under a compulsory decision to import pharmaceuticals under the mechanism of a treaty to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party, and the compensation for the use of the invention transferred under a compulsory decision has been paid in the exporting country;

dd) Such transferred use right is mainly to supply the domestic market, except for the cases specified at Points d and dd, Clause 1, Article 145 of this Law.”.

58. To amend and supplement Clause 1, Article 147 as follows:

“1. The Ministry of Science and Technology shall issue decisions on transfer of the right to use inventions based on the consideration of requests for transferring the use right in the cases specified at Points b, c and d, Clause 1, Article 145 of this Law.

Ministries and ministerial-level agencies shall issue decisions on transfer of the right to use inventions in domains under their respective management in the cases specified at Points a and dd, Clause 1, Article 145 of this Law after consulting opinions of the Ministry of Science and Technology.”.

59. To amend and supplement Clause 1, Article 153 as follows:

“1. Industrial property representatives shall have the following responsibilities:

a) To notify fee and charge amounts and rates, which are related to procedures for establishment and protection of industrial property rights of clients;

b) To keep confidential information and documents related to cases of their representation;

c) To truthfully and adequately inform notices and requests of the State agency competent to establish and protect industrial property rights; to deliver on time protection titles and other decisions to the represented parties;

d) To promptly carry out requests of the State agency competent to establish and protect industrial property rights in favor of the represented parties to protect their rights and lawful interests;

dd) To notify the State agency competent to establish and protect industrial property rights of changes in the names, addresses of and other information on the represented parties when necessary.”.

60. To amend and supplement Article 154 as follows:

Article 154. Conditions for industrial property representation service business

1. Law-practicing organizations, cooperatives or enterprises, or scientific and technological service organizations that are established and operating in accordance with law regulations and have at least an individual possessing an industrial property representation service-practicing certificate shall be allowed to conduct the industrial property representation service business as industrial property representation service organizations, except for cases specified in Clause 2 of this Article.

2. Foreign law-practicing organizations that practice law in Vietnam must not conduct the industrial property representation service business.”.

61. To amend and supplement Clause 2, to add Clause 2a after Clause 2, Article 155 as follows:

“2. Individuals who satisfy the following conditions shall be granted industrial property representation service-practicing certificates, except for cases specified in Clause 2a of this Article:

a) Being Vietnamese citizens with full capacity for civil acts;

b) Residing permanently in Vietnam;

c) Possessing a bachelor’s degree or the equivalent for cases practicing in the domains of trademarks, geographical indications, trade names, repression of unfair competition, trade secrets; holding a bachelor’s degree or the equivalent in a natural science or technical science, for cases practicing in the domains of inventions, industrial designs, layout-designs;

d) Having personally conducted legal activities related to industrial property for 5 years or more, or personally appraised various applications for registration of industrial property at a national or international industrial property office for 5 years or more, or graduated from a training course on the law of industrial property as recognized by a competent agency;

dd) Being other than civil servants, public employees or employees currently working in State agencies competent to establish and protect industrial property rights;

e) Having passed an examination of the profession of representing industrial property rights, organized by a competent agency.

2a. Vietnamese citizens being lawyers that are permitted to practice in accordance with the Law on Lawyers and reside permanently in Vietnam shall be granted an industrial property representation service-practicing certificate in the domains of trademarks, geographical indications, trade names, repression of unfair competition, trade secrets if having graduated from training courses on industrial property law recognized by competent agencies.”.

62. To amend and supplement Clause 2, Article 156 as follows:

“2. In case an industrial property representative no longer satisfies the business or practice conditions specified in Articles 154 and 155 of this Law, the State management agency in charge of industrial property rights shall revoke the industrial property representation service-practicing certificate, the delete the name of such industrial property representative in the national register of industrial property and publish such deletion in the Official Gazette of Industrial Property.”.

63. To amend and supplement Clause 2, Article 157 as follows:

“2. Organizations and individuals defined in Clause 1 of this Article include Vietnamese organizations and individuals; organizations and individuals of foreign countries which are member countries of the International Union for the Protection of New Varieties of Plants or have concluded with the Socialist Republic of Vietnam agreements on the protection of plant varieties; foreign individuals that have permanent residence addresses in Vietnam or have establishments producing or trading in plant varieties in Vietnam; foreign organizations that have establishments producing or trading in plant varieties in Vietnam; organizations and individuals that have permanent residence addresses or have establishments producing or trading in plant varieties in the territory of member countries of the International Union for the Protection of New Varieties of Plants.”.

64. To amend and supplement Article 158 as follows:

Article 158. General conditions for plant varieties eligible for protection

Plant varieties eligible for protection mean those which have been selected and bred or discovered and developed, and are new, distinct, uniform, stable and designated by proper denominations.”.

65. To amend and supplement a number of points and clauses of Article 163 as follows:

a) To amend and supplement Clause 1 as follows:

“1. An organization or individual registering rights to plant varieties must designate with the State management agency in charge of rights to plant varieties a proper denomination for a plant variety which must be the same as the denomination already registered for protection in any member country of the International Union for the Protection of New Varieties of Plants and in any country which has concluded with the Socialist Republic of Vietnam an agreement on the protection of plant varieties.”;

b) To amend and supplement Point a, Clause 3 as follows:

“a) They consist of numerals only, unless such numerals are relevant to characteristics or the breeding of such varieties or include the name of the species of such varieties;”

c) To amend and supplement Point c, Clause 3 as follows:

“c) They may easily cause misleading as to features, characteristics or value of such varieties;”;

d) To add Clause 6 after Clause 5 as follows:

“6. In case the denomination for a plant variety registered for protection does not satisfy the requirements specified in Clauses 2 and 3 of this Article, the State management agency in charge of rights to plant varieties shall refuse such denomination and request the registrant to propose another denomination within thirty days from the date of issuing the notice. The State management agency in charge of rights to plant varieties shall record the official name of the plant variety from the time of granting the plant variety protection title.”.

66. To amend and supplement Article 164 and Article 165 as follows:

Article 164. Registration of rights to plant varieties

1. To obtain protection of rights to plant varieties, organizations and individuals must submit their applications for protection registration to the State management agency in charge of rights to plant varieties.

2. Organizations and individuals having the right to register plant variety protection (hereinafter referred to as registrants) include:

a) Breeders who have personally selected and bred or discovered and developed the plant varieties with their own efforts and expenses;

b) Organizations and individuals that fund breeders to select and breed or discover and develop plant varieties in form of job assignment or hiring, unless otherwise agreed upon, or except cases specified in Clauses 3 and 4 of this Article;

c) Organizations and individuals that are transferred or inherit the right to register for protection of plant varieties.

3. For the selected and bred or discovered and developed plant varieties that are results of scientific and technological tasks wholly funded by the State budget, the right to register for such plant varieties shall be assigned to the organizations presiding over such tasks automatically and without compensation.

4. For the selected and bred or discovered and developed plant varieties that are results of scientific and technological tasks funded by different capital sources, including the State budget, portion of the right to register for such plant varieties corresponding to the portion invested by the State budget shall be assigned to the presiding organizations automatically and without compensation.

Article 165. Rights-to-plant varieties representation

1. Vietnamese organizations and individuals; foreign organizations and individuals permanently residing in Vietnam or having establishments producing or trading in plant varieties in Vietnam shall submit their applications for registration of rights to plant varieties directly or through rights-to-plant varieties representation service organizations; other organizations and individuals specified in Article 157 of this Law shall submit their applications via rights-to-plant varieties representation service organizations.

2. Organizations that satisfy the following conditions may provide services of representing rights to plant varieties as rights-to-plant varieties representation service organizations:

a) Being Vietnamese law-practicing organizations, cooperatives or enterprises, or scientific and technological service organizations that are established and operating in accordance with law regulations, except for foreign law-practicing organizations that practice law in Vietnam;

b) Having at least an individual possessing a rights-to-plant varieties representation service practice certificate.

3. Rights-to-plant varieties representation services include: represent organizations and individuals before competent State agencies to establish and protect rights to plant varieties; provide the advice on procedures for establishing and protecting rights to plant varieties; provide other services related to the procedures for establishing and protecting rights to plant varieties.

4. Rights-to-plant varieties representatives shall be responsible for:

a) Notifying fee and charge amounts and rates, which are related to procedures for establishment and protection of rights to plant varieties of clients;

b) Keeping confidential information and documents related to cases of their representation;

c) Truthfully and adequately informing notices and requests of the State agency competent to establish and protect rights to plant varieties; delivering on time plant variety protection titles and other decisions to the represented parties;

d) Promptly carrying out requests of the State agency competent to establish and protect rights to plant varieties in favor of the represented parties to protect their rights and lawful interests;

dd) Notifying the State agency competent to establish and protect rights to plant varieties of changes in the names, addresses of and other information on the represented parties; changes in the names, addresses and representatives of the representing parties;

e) Rights-to-plant varieties representation service organizations must bear civil liabilities toward persons performing the rights-to-plant varieties representation on their behalf.

5. Individuals shall be allowed to provide services of representing rights to plant varieties when satisfying the following conditions:

a) Possessing a rights-to-plant varieties representation service practice certificate;

b) Working in a rights-to-plant varieties representation service organization.

6. Individuals who satisfy the following conditions will be granted rights-to-plant varieties representation service practice certificates:

a) Being Vietnamese citizens with full capacity for civil acts;

b) Residing permanently in Vietnam;

c) Possessing a bachelor’s degree or the equivalent;

d) Having personally conducted legal activities related to rights to plant varieties for five years or more, or personally appraised various applications for registration of rights to plant varieties in a national or international office for rights to plant varieties for five years or more, or graduated from a training course on the law on rights to plant varieties as recognized by a competent agency;

dd) Being other than civil servants, public employees or employees currently working in State agencies competent to establish and protect rights to plant varieties;

e) Having passed an examination of the profession of representing rights to plant varieties, organized by a competent agency.

7. The Government shall detail the training program of the law on rights to plant varieties, examination of the profession of representing rights to plant varieties, and grant of rights-to-plant varieties representation service practice certificates.”.

67. To add Clause 6 after Clause 5, Article 170 as follows:

“6. The Government shall detail the order and procedures for termination, restoration and invalidation of plant variety protection titles.”.

68. To amend and supplement Point a, Clause 1, Article 171 as follows:

“a) The plant variety protection registration application is registered by a person who does not have the registration right;”.

69. To add Clause 3 after Clause 2, Article 172 as follows:

“3. The Government shall detail the order and procedures for amendment and re-grant of plant variety protection titles.”.

70. To amend and supplement Point d, Clause 3, Article 176 as follows:

“d) Notifying the acceptance of the application in cases such application is valid or the registrant has properly corrected the errors or made a justifiable opposition to the notice as specified at Point b of this Clause, in which requesting the registrant to supply samples of the variety to the testing institution for performance of technical tests within thirty days before the first growing season from the date the notice of acceptance of plant variety protection registration application is issued, except for cases where the plant variety is tested by the registrant himself as specified in Clause 2, Article 178 of this Law.”.

71. To amend and supplement Clause 2, Article 180 as follows:

“2. From the moment the registrant withdraws the protection registration application, all subsequent procedures related to such application shall be terminated.”.

72. To amend and supplement Article 183 as follows:

“Article 183. Grant of plant variety protection titles

In cases a protection registration application is not rejected as specified in Article 182 of this Law and the registrant pays the fee, the State management agency in charge of rights to plant varieties shall decide to grant a plant variety protection title and record it in the national register of protected plant varieties.

A person who register the rights to plant varieties as prescribed in Article 164 of this Law and is granted a plant variety protection title by the competent State agency shall be the holder of rights to plant varieties.”.

73. To amend and supplement Clause 2, Article 189 as follows:

“2. In cases the registrant is aware of the fact that another person commits the acts prescribing in Articles 186 and 187 of this Law for the plant variety registered for protection, from the time the acceptance of validity of the registration application for protection of the plant variety is published, the plant variety protection registrant may notify in writing that user of the fact that a registration application for protection of the plant variety has been submitted, clearly specifying the submitting date and the date of acceptance of validity of such protection registration application, so that the latter shall stop or continue using the plant variety.”.

74. To amend and supplement Article 191 and add Articles 191a and 191b after Article 191 in Section 2, Chapter XIV, Part Four as follows:

“Article 191. Obligations of plant variety protection title holders

1. Except for the cases specified in Clause 2 of this Article, a plant variety protection title holder has the obligation of paying remunerations to the breeder of plant variety as agreed upon; in the absence of such agreement, the remuneration level payable to the breeder shall be as follows:

a) 10% of pre-tax profit earned by the plant variety protection title holder from the use of the protected plant variety for production and business;

b) 15% of the total amount received by the plant variety protection title holder in each payment due to the transfer of the right to use the plant variety before the payment of tax as prescribed;

c) 35% of the total amount received by the plant variety protection title holder for the first transfer of the rights to the plant variety before the payment of tax as prescribed and be not entitled to remuneration for the next transfer and remunerations as prescribed at Points a and b of this Clause.

2. For a plant variety that is the result of a scientific and technological task funded by the State budget, the plant variety protection title holder shall pay remuneration to the breeder in accordance with the following regulations:

a) Between 10% and 15% of pre-tax profit earned by the plant variety protection title holder from the use of the protected plant variety for production and business;

b) Between 15% and 20% of the total amount received by the plant variety protection title holder in each payment due to the transfer of the right to use the plant variety before the payment of tax as prescribed;

c) Between 20% and 35% of the total amount received by the plant variety protection title holder for the first transfer of the rights to the plant variety before the payment of tax as prescribed and be not entitled to remuneration for the next transfer and remunerations as prescribed at Points a and b of this Clause.

3. For cases of a plant variety of co-authors, the remuneration levels specified in Clauses 1 and 2 of this Article are those for co-authors; the co-authors shall themselves agree on the distribution of the remuneration paid by the plant variety protection title holder.

4. The obligation to pay remuneration to the breeders shall exist throughout the term of protection of the plant varieties.

5. To pay the validity maintenance fee of the plant variety protection titles to the plant variety protection agency within three months after the date of grant of plant variety protection titles, for the first valid year and within the first month of the next valid years, for the following valid years.

6. To preserve protected plant varieties, supply reproductive materials and information of protected plant varieties at the request of plant variety protection agency; and maintain the stability of protected plant varieties according to the traits described at the time of grant of the plant variety protection titles.

Article 191a. Obligations of presiding organizations for selected and bred or discovered and developed plant varieties that are the results of scientific and technological tasks funded by the State budget

1. To submit the application for registration of rights to a plant variety within 12 months from the date of pre-acceptance test of the scientific and technological task.

2. To pay remuneration to the breeders of plant varieties in accordance with Article 191 of this Article.

3. For a scientific and technological task of which up to 30% of the total capital is funded by the State, the after-tax profits earned from the use, transfer of use right, assignment of rights or contribution as capital of the plant variety that are corresponding to the State’s capital contribution ratio, after the remuneration of the breeder has already paid, shall be used according to the presiding organization’s financial management regulations.

4. For a scientific and technological task of which more than 30% of the total capital is funded by the State, the distribution of after-tax profits earned from the use, transfer of use right, assignment of rights or contribution as capital of the selected and bred or discovered and developed plant variety that is the result of the scientific and technological task funded by the State budget, after the remuneration of the breeder has already paid, shall comply with the following regulations:

a) In case a scientific and technological task is wholly funded by the State budget, at least 50% of the remaining profits shall be used to invest in scientific and technological activities; the remainder shall be used according to the presiding organization’s financial management regulations;

a) In case a scientific and technological task is funded by different capital sources, the remaining profits shall be distributed to the parties in proportion to their capital contribution to such scientific and technological task. The portion of profits corresponding to the State’s capital contribution ratio shall be used by the presiding organization in accordance with Point a of this Clause.

5. The presiding organization granted the plant variety protection title, which has the registration right as specified Clauses 3 and 4, Article 164 of this Law, has the obligations to exercise the rights to the plant variety in accordance with regulations, take protection measures, and submit annual reports on the exercise of rights, protection measures and the distribution of profits to the agency managing the scientific and technological task.

6. The Government shall detail this Article.”.

Article 191b. Rights of the State towards selected and bred or discovered and developed plant varieties that are the results of scientific and technological tasks funded by the State budget

1. The representative of State owner shall publicly notify within 90 days to transfer the right to register selected and bred or discovered and developed plant varieties that are results of scientific and technological tasks funded by the State budget to organizations or individuals in need in the following cases:

a) Organizations presiding the scientific and technological tasks fail to perform the obligation specified in Clause 1 Article 191a of this Law;

b) Organizations presiding the scientific and technological tasks send a report to the representative of State owner on the fact that there is no demand for registration.

2. In case of failing to transfer the registration right to an organization or individual in need under Clause 1 of this Article, the representative of State owner shall publicly announce contents of a selected and bred or discovered and developed plant variety being the result of a scientific and technological task funded by the State budget on the portal or website of the organization managing the scientific and technological task.

3. The competent State agencies may permit other organizations and individuals to use the selected and bred or discovered and developed plant varieties that are the results of scientific and technological tasks funded by the State budget without permission from the exclusive right holders in the following cases:

a) The exclusive right holders fail to take effective measures in an appropriate period in order to use selected and bred or discovered and developed plant varieties that are the results of scientific and technological tasks of which more than 30% of the total capital is funded by the State;

b) Where the use is for public and non-commercial purposes or in service of national defense, security, disease prevention and treatment, and nutrition assurance for people or other urgent needs of the society.

4. The payment of compensation for the exclusive right holder when the competent State agency permits other organizations or individuals to use a plant variety under Clause 3 of this Article shall be carried out as follows:

a) For a selected and bred or discovered and developed plant variety that is the result of a scientific and technological task wholly funded by the State budget, organizations or individuals permitted to use the plant variety are not required to pay compensation.

b) For a selected and bred or discovered and developed plant variety that is the result of a scientific and technological task funded by different capital sources, including the State budget, organizations or individuals permitted to use such plant variety are not required to pay compensation for the use right portion corresponding to the capital portion invested by the State budget, but must pay compensation for the use right portion corresponding to the remaining investment capital. The compensation paid to the exclusive right holder shall be determined in accordance with Point d Clause 3 Article 195 of this Law.

5. The Government shall detail this Article.”.

75. To amend and supplement Clause 4, and add Clause 5 after Clause 4, Article 194 as follows:

“4. The rights to selected and bred or discovered and developed plant varieties that are results of scientific and technological tasks funded by the State budget may only be transferred to organizations established under Vietnamese law, individuals being Vietnamese citizens and permanently residing in Vietnam. Organizations and individuals that receive the transfer of the ownership must perform the respective obligations of the presiding organizations in accordance with this Law.

5. The Government shall detail this Article.”.

76. To amend and supplement a number of clauses of Article 198 as follows:

a) To amend and supplement Points a and b, Clause 1 as follows:

“a) Applying technological measures to protect rights, publish right management information or applying other technological measures to prevent acts of infringing upon intellectual property rights;

b) Requesting organizations or individuals that commit acts of infringing upon intellectual property rights to terminate their infringing acts, remove and delete violating contents in the Internet and telecommunications network environment, make public apologies or rectifications and pay damages;”;

b) To add Clause 1a after Clause 1, to amend and supplement Clauses 2 and 3 as follows:

“1a. Intellectual property right holders may authorize other organizations or individuals to apply the measures specified in Clause 1 of this Article to protect their intellectual property rights.

2. Organizations and individuals that suffer from damage caused by acts of infringing upon intellectual property rights or discover acts of infringing upon intellectual property rights which cause damage to consumers or the society shall have the right to request competent State agencies to handle such acts in accordance with this Law and other relevant law regulations.

Organizations and individuals that inherit the copyright, rights of performers shall have the right to request competent State agencies to handle acts of infringing upon the rights specified in Clause 4 Article 19 and Point b Clause 2 Article 29 of this Law.

3. Organizations and individuals that suffer from damage or are likely to suffer from damage caused by acts of unfair competition shall have the right to request competent State agencies to apply the civil remedies provided for in Article 202 of this Law.”.

77. To add Article 198a and Article 198b after Article 198 as follows:

“Article 198a. Presumption of copyright and related rights

In civil, administrative and criminal legal proceedings on copyright and related rights, if there is no evidence to the contrary, in the absence of evidence to the contrary, copyright and related rights shall be assumed as follows:

1. Individuals and organization to be commonly named as authors, performers, producers of phonograms and/or video recordings, broadcasting organizations, producers of cinematographic works, publishing houses shall be considered as the holders of rights to such works, performances, phonograms, video recordings or broadcasts;

2. To be commonly named as specified in Clause 1 of this Article means to be named in the original of a work, first fixed copy of a performance, phonogram, video recording or broadcast and relevant documents (if any) or in the corresponding copy that are legally published in case the original of the work, first fixed copy of the performance, phonogram, video recording or broadcast and relevant documents no longer exist;

3. Individuals and organizations specified in Clause 1 of this Article are entitled to copyright and related rights.

Article 198b. Legal liability related to copyright and related rights of enterprises providing intermediary services

1. An intermediary service provider means an enterprise that provides technical means for organizations and individuals to use the service of putting digital information contents in the Internet and telecommunications network environment; provides online connectivity for the public to access and use digital information contents in the Internet and telecommunications network environment.

2. Enterprises providing intermediary services shall be responsible for implement technical measures, coordinate with competent State agencies and rights holders in performing measures to protect copyright and related rights in the Internet and telecommunications network environment.

3. Enterprises providing intermediary services shall be exempted from legal liability for the acts of infringing upon copyright and related rights in the Internet and telecommunications network environment related to the provision or use of their services in the following cases:

a) They only carry out the transmission of digital information contents or provide the access to digital information contents;

b) When performing the function of buffer storage in the process of information transmission, the enterprises providing intermediary services must perform it automatically and temporarily for the purpose of transferring information and making the transmission of information more effective, under the following conditions: transform information only for technological reasons; comply with the conditions of access to and use of digital information contents; comply with rules for updating digital information contents that are specified in detail according to a method widely recognized and used in the industry; do not prevent the lawful use of technology that is widely recognized in the industry to obtain data on the use of digital information contents; remove the digital information contents or deny the access to the digital information contents when learning that such digital information contents have been removed at their originating source or their originating source has canceled the access to such digital information contents;

c) Store digital information contents of service users at the request of the service users but: do not know that such digital information contents infringe upon copyright and related rights; quickly remove or prevent access to such digital information contents upon learning that such digital information contents infringe upon copyright or related rights;

d) Other cases as prescribed by the Government.

4. Enterprises providing intermediary services that are exempted from legal liability as specified in Clause 3 of this Article must not monitor its own service or proactively seek evidence of acts of infringement.

5. Digital information contents specified in this Article are works and subject matters of related rights protected under this Law that are expressed in digital form.

6. The Government shall detail this Article.”.

78. To amend and supplement a number of clauses of Article 201 as follows:

a) To amend and supplement Clause 1 and add Clause 1a after Clause 1; amend and supplement Clause 2 and add Clause 2a after Clause 2 as follows:

“1. Intellectual property assessment means the use by organizations or individuals defined in Clauses 2 and 3 of this Article of their professional knowledge and expertise to assess and make conclusion on matters related to intellectual property rights. The judicial assessment of intellectual property shall comply with law regulations on judicial assessment.

1a. Intellectual property assessment includes:

a) Assessment of copyright and copyright-related rights;

b) Assessment of industrial property rights;

c) Assessment of rights to plant varieties.

2. Enterprises, cooperatives, non-business units or law-practicing organizations, which are established and operate in accordance with law regulations and have at least an individual possessing an intellectual property assessor card, may perform the intellectual property assessment, except for cases specified in Clause 2a of this Article.

2a. Foreign law-practicing organizations that practice law in Vietnam must not conduct the intellectual property assessment service business.”;

b) To amend and supplement Clauses 4 and 5 as follows:

“4. Principles of assessment include:

a) Comply with the law, follow the order and procedures of assessment;

b) Truthfulness, accuracy, objectiveness, impartiality and timeliness;

c) Making of professional conclusions only on matters within the requested scope;

d) Responsibility before law for assessment conclusions;

dd) Assessment charge shall be agreed upon by the assessment requesters and organizations or individuals performing the assessment.

5. Assessment conclusions shall be one of the sources of evidence for the competent agencies to settle the cases. Assessment conclusions do not conclude the infringement of intellectual property rights or conclude the dispute.”.

79. To amend and supplement Articles 212, 213 and 214 as follows:

“Article 212. Acts of infringing upon industrial property rights which shall be criminally handled

Individuals or commercial legal persons that commit acts of infringing upon intellectual property rights involving elements which constitute a crime shall be examined for penal liability.

Article 213. Intellectual property counterfeit goods

1. Intellectual property counterfeit goods referred to in this Law include goods bearing counterfeit trademarks and goods bearing counterfeit geographical indications and pirated goods defined in Clauses 2, 3 and 4 of this Article.

2. Goods bearing counterfeit trademarks means are goods or their packages bearing trademarks or signs or stamps, labels with signs identical with, or similar signs indistinguishable from, trademarks currently protected for those very goods without permission of mark owners.

3. Goods bearing counterfeit geographical indications are goods or their packages bearing signs or stamps, labels with signs identical with, or similar signs indistinguishable from, geographical indications currently protected for those very goods and such bearing is carried out by organizations or individuals that do not have the right to use such geographical indications as specified in Clause 4, Article 121 of this Law or the law of the countries of original of such geographical indications.

4. Pirated goods are copies made without the permission of the copyright holder or related right holder.

Article 214. Forms of administrative sanction and remedial measures

1. Organizations and individuals that commit acts of infringing upon intellectual property rights defined in Clause 1, Article 211 of this Law shall be imposed sanctions and remedial measures in accordance with law regulations on handling of administrative violations.

2. In addition to the sanctions and remedial measures prescribed by law regulations on handling of administrative violations, organizations and individuals infringing upon intellectual property rights are also subject to the remedial measure of forcible distribution or use for non-commercial purposes of intellectual property counterfeit goods as well as raw materials, materials and means used mainly for the production or trading of these intellectual property counterfeit goods, provided that the distribution or use does not affect the exploitation of rights by intellectual property right holders and meets other conditions as specified by the Government.

3. Administrative sanctioning levels and the competence to sanction administrative violations for infringements upon intellectual property rights shall comply with law regulations on handling of administrative violations.”.

80. To amend and supplement a number of clauses of Article 216 as follows:

a) To amend and supplement Clause 2 as follows:

“2. Suspension of customs procedures for goods suspected of infringing upon intellectual property rights means a measure taken in the following cases:

a) At the request of intellectual property right holders in order to collect information and evidence on goods lots in question so that the intellectual property right holders can exercise the right to request the handling of infringing acts and request the application of provisional urgent measures or preventive measures to secure the administrative sanctioning;

b) Customs offices shall proactively apply the suspension if during the process of inspection, supervision and control, there are evident grounds to suspect that imported or exported goods are intellectual property counterfeit goods.”;

b) To add Clause 5 after Clause 4 as follows:

“5. The Government shall detail Point b, Clause 2 of this Article.”.

81. To add Clause 4 after Clause 3, Article 218 as follows:

“4. In the event that a customs office proactively suspends the customs procedures, the customs office must immediately notify such suspension to the intellectual property right holder if the contact information is available and to the importer or exporter.

Within ten working days from the date of notification, if the intellectual property right holder does not initiate civil lawsuit and the customs office does not decide to accept the case for handling of administrative violations, the customs office shall be responsible for continuing to carry out customs procedures for the goods lot.”.

82. To replace or remove words or phrases in a number of articles as follows:

a) To replace the phrase “plastic-art works” with the phrase “art works” at Point g Clause 1 Article 14;

b) To replace the phrase “performances” with the phrase
“related rights” and remove the phrase “Clause 1” in Clause 2, Article 16;

c) To replace the phrase “Article 86” with the phrase “Article 86, Article 86a” in Clause 3 Article 60, Clause 4 Article 65 and Clause 2 Article 71;

d) To replace the phrase “the validity maintenance fee” with the phrase “the validity maintenance charge or fee” in Clause 1 Article 94;

dd) To replace the phrase “the validity prolongation fee” with the phrase “the validity prolongation charge or fee” in Clause 2 Article 94;

e) To replace the word “fees” with the phrase “charges and fees” in Clause 3 Article 94;

g) To replace the phrase “submitting fee” with the phrase “charge and fee” at Point c Clause 1 Article 108;

h) To replace the phrase “enforcement” with the word “protection” at Point a Clause 1 Article 151;

i) To replace the word “enforcement” with the word “protection” at Points b and c Clause 1 Article 151;

k) To replace the word “vines” with the phrase “woody vines” in Article 159 and Clause 2 Article 169;

l) Remove the phrase “Point b and” at Point a Clause 3 Article 176;

m) Remove the phrase “Point a Clause 1” in Clause 2 Article 185;

n) Remove the phrase “in Article 79” in Clause 1 Article 203;

o) Remove the phrase “in Clause 1 Article 122” in Clause 1 Article 209;

p) Remove the phrase “in Chapter VIII, Part One” in Article 210;

q) Remove the phrase “and Article 215” in Clause 4 Article 216 and Article 219.

83. To repeal Clause 19 Article 4, Article 5, Clause 3 Article 51, Clause 4 Article 117, Point b Clause 2 Article 176 and Article 215.

Article 2. Amending and supplementing a number of articles of other relevant laws

1. To amend and supplement a number of articles of the Law No. 54/2014/QH13 on Customs that is amended and supplemented by the Law No. 71/2014/QH13 and Law No. 35/2018/QH14 as follows:

a) To amend and supplement the title of Section 8, Chapter III as follows:

“Section 8

INSPECTION, SUPERVISION, SUSPENSION OF THE PERFORMANCE OF CUSTOMS PROCEDURES FOR EXPORTED AND IMPORTED GOODS RELATED TO THE INTELLECTUAL PROPERTY RIGHTS”;

b) To amend and supplement Clause 2, Article 73 as follows:

“2. Customs offices may decide to temporarily stop carrying out customs procedures for imported or exported goods when intellectual property rights holders or legally authorized persons make written requests and show evidence of their lawful holding of intellectual property rights and evidence of infringements thereupon and have paid a deposit or produced documents on guarantee by credit institutions as security for payment of damage compensation and expenses as prescribed by law regulations which may arise due to wrong requests for suspension of the performance of customs procedures. Customs offices shall proactively suspend the performance of customs procedures if during the process of inspection, supervision and control, there are evident grounds to suspect that imported or exported goods are intellectual property counterfeit goods.”.

2. To amend and supplement a number of articles of the Law No. 29/2013/QH13 on Science and Technology that is amended and supplemented by the Law No. 28/2018/QH14 as follows:

a) To amend and supplement Article 41 as follows:

“Article 41. Right to own or use scientific research and technological development results

1. Organizations or individuals investing money and physical-technical foundations in the performance of scientific and technological tasks are owners of scientific research and technological development results, unless otherwise agreed by parties in scientific research and technological development contracts.

2. Representatives of the State owner of results of scientific research and technological development funded with the State budget are as follows:

a) The Minister of Science and Technology acts as the representative of the owner of national scientific and technological task performance results;

b) Ministers, heads of ministerial-level agencies, government-attached agencies, other central State agencies or chairpersons of provincial-level People’s Committees act as representatives of the owner of performance results of ministerial- or provincial-level or grassroots scientific and technological tasks they have approved;

c) Heads of agencies or organizations not mentioned at Points a and b of this Clause act as representatives of the owner of performance results of scientific and technological tasks they have approved.

3. Representatives of the State owner mentioned in Clause 2 of this Article may consider assigning the whole or part of the right to own or use results of scientific research and technological development funded by the State budget under the Government’s regulations to organizations assuming the prime responsibility for performing scientific and technological tasks, or to other organizations or individuals that wish to use or exploit such results of scientific research and technological development, except for cases specified in Clause 4 of this Article.

4. In cases inventions, industrial designs, layout-designs or plant varieties are results of scientific and technological tasks funded by the State budget, the rights to register such inventions, industrial designs, layout-designs or plant varieties shall be automatically assigned to the presiding organizations and without compensation, or shall be assigned to other organizations or individuals as defined by the Law on Intellectual Property. When being granted protection titles, the presiding organizations shall be the owners of the corresponding inventions, industrial designs, layout-designs or plant varieties.

5. The Government shall detail the rights to own and use scientific research and technological development results specified in this Article.”;

b) To amend and supplement Article 43 as follows:

“Article 43. Division of profits upon use, transfer of use right, assignment or contribution as capital of results of scientific research and technological development funded by the State budget

1. At least 30% of the profit earned from the use, transfer of use right, assignment or contribution as capital of a result of scientific research and technological development funded by the State budget shall be divided to the author. The remainder will be divided among the owner, managing agency and broker in accordance with the Government’s regulations, except for cases prescribed in Clause 2 of this Article.

2. Division of profits earned from the use, transfer of use right, assignment of rights or contribution as capital of inventions, industrial designs, layout-designs and plant varieties being results of scientific and technological tasks funded by the State budget of which intellectual property rights are protected shall comply with the Law on Intellectual Property.”.

3. To amend and supplement Point a, Clause 4, Article 105 of the Law No. 15/2017/QH14 on Management and Use of Public Property that is amended and supplemented by the Law No. 64/2020/QH14 as follows:

“a) Transferring the right to use the property or the property ownership to the organizations presiding the implementation of the tasks to promote the results of tasks or using the property to commercialize results of scientific research and technological development; except for cases of results of scientific and technological tasks being inventions, industrial designs, layout-designs and plant varieties in which the transfer of rights shall comply with the Law on Intellectual Property;”.

4. To amend and supplement a number of articles of the Law 11/2012/QH13 on Price that is amended and supplemented by the Law No. 61/2014/QH13 and Law No. 64/2020/QH14 as follows:

a) To add Point d after Point c, Clause 1, Article 19 as follows:

“d) Works, phonograms and video recordings in cases of limitation of copyright, limitation of related rights as specified by the Law on Intellectual Property.”;

b) To amend and supplement Point c, Clause 3, Article 19 as follows:

c) Setting price frameworks and specific prices or charge/rent rates for:

- Land, water surface, ground water and forests under the entire people’s ownership represented by the State, and clean water for domestic use;

- Rent, lease-purchase of social houses and official-duty houses built with State budget funds; sale prices or rental rates of State-owned houses;

- Medical examination and treatment, and education and training services provided at the State’s medical examination and treatment establishments and education and training institutions;

- Royalties upon exploitation or use of works, phonograms or video recordings in cases of limitation of copyright, limitation of related rights as specified by the Law on Intellectual Property;”;

c) To add Point d after Point c, Clause 1, Article 22 as follows:

“d) Frameworks and specific rates of royalties upon exploitation or use of works, phonograms and video recordings in cases of limitation of copyright, limitation of related rights as specified by the Law on Intellectual Property.”.

Article 3. Effect

1. This Law takes effect on January 01, 2023, except for the cases specified in Clauses 2 and 3 of this Article.

2. Regulations on protection of sound trademarks take effect on January 14, 2022.

3. Regulations on protection of test data for agro-chemical products take effect on January 14, 2024.

Article 4. Transitional provisions

1. Copyright and related rights protected before the effective date of this Law shall continue to be protected under this Law if they remain in term of protection.

2. Applications for registration of copyright and related rights, which have been submitted to competent agencies before the effective date of this Law, shall continue to be handled in accordance with law regulations effective at the time of submitting such applications.

3. Applications for registration of inventions, industrial designs, trademarks and geographical indications, which have been submitted to State management agencies in charge of industrial property rights before the effective date of this Law, shall continue to be handled in accordance with law regulations effective at the time of submitting such applications, except for the following cases:

a) The provisions in Clause 13 Article 4 of the Law on Intellectual Property that are amended and supplemented under Point b Clause 1 Article 1 of this Law apply to industrial design registration applications submitted from August 01, 2020 but there is no decision on grant of, or refusal to grant a protection title before the effective date of this Law;

b) The provisions at Points e and h Clause 2 Article 74, Point e Clause 1 Article 106, Point b Clause 3 Article 117 of the Law on Intellectual Property that are amended and supplemented by Points b and c Clause 22, Clause 35 and Point b Clause 42 Article 1 of this Law apply to industrial property registration applications without any decision on grant of, or refusal to grant a protection title issued before the effective date of this Law;

c) Security control for inventions in invention registration applications for which a decision to grant or refuse to grant a protection title has not been granted before the effective date of this Law shall comply with Article 89a that is added according to Clause 27 Article 1 of this Law;

d) The provisions in Article 118 of the Law on Intellectual Property that are amended and supplemented under Clause 43 Article 1 of this Law apply to industrial property registration applications without any notice on results of content appraisal issued before the effective date of this Law.

4. The provisions in Articles 86, 86a, 133a, 135, 136a, 139, 164, 191, 191a, 191b and 194 of the Law on Intellectual Property that are amended and added according to Clauses 25, 52, 53, 54, 55, 66, 74 and 75 Article 1 of this Law, applicable to inventions, industrial designs, layout-designs and plant varieties that are results of scientific and technological tasks funded by the State budget shall apply to scientific and technological tasks assigned from the effective date of this Law.

5. Rights and obligations to an industrial design that is a part of a product for assembly into a complex product under a protection title granted on the basis of an application before August 1, 2020 shall be applied in accordance with law regulations in force before the effective date of this Law.

Grounds for invalidation of protection titles shall comply with law regulations that is applied to the consideration of grant of such protection titles.

6. Individuals granted industrial property representation service-practicing certificates before the effective date of this Law may continue to practice under their granted certificates. Individuals passing examinations on industrial property representation profession organized by competent agencies before the effective date of this Law shall be granted industrial property representation service-practicing certificates in accordance with the Law on Intellectual Property that is amended and supplemented by the Law No. 36/2009/QH12 and the Law No. 42/2019/QH14.

7. Registration applications for protection of rights to plant varieties, which have been submitted to competent agencies before the effective date of this Law, shall continue to be handled in accordance with law regulations in force at the time of submitting such applications. Individuals granted rights-to-plant varieties representation service practice certificates before the effective date of this Law may continue to practice under their granted certificates.

8. Lawsuits over intellectual property right infringement which have been accepted by competent agencies before the effective date of this Law, but not yet settled, shall be continued processed in accordance with the Law No. 50/2005/QH11 on Intellectual Property which is amended and supplemented under the Law No. 36/2009/QH12 and the Law No. 42/2019/QH14.

_______________

This Law was adopted on June 16, 2022, by the XVth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 3th session.

 

CHAIRMAN OF THE NATIONAL ASSEMBLY

Vuong Dinh Hue

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch LuatVietnam
download Law 07/2022/QH15 DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

download Law 07/2022/QH15 PDF
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP?
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi có nội dung gì mới?
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 bổ sung nhiều nội dung mới, đáng chú ý có thể kể đến như:
- Bổ sung các khái niệm về tiền bản quyền, sáng chế mật, chỉ dẫn địa lý đồng âm, đồng tác giả...
- Sửa đổi, bổ sung các trường hợp không xâm phạm quyền tác giả, giới hạn quyền tác giả...
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi có hiệu lực từ ngày nào?
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023.
Riêng quy định về bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu âm thanh có hiệu lực từ 14/01/2022.
Quy định về bảo hộ dữ liệu thử nghiệm dùng cho nông hóa phẩm có hiệu lực từ 14/01/2024.
tin liên quan

văn bản cùng lĩnh vực

Thông tư 01/2022/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 07/2014/TT-BVHTTDL ngày 23/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định hồ sơ, các mẫu văn bản thực hiện giám định tư pháp; áp dụng quy chuẩn chuyên môn cho hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực văn hóa; điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giám định của văn phòng giám định tư pháp về dị vật, cổ vật, quyền tác giả, quyền liên quan

Thông tư 01/2022/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 07/2014/TT-BVHTTDL ngày 23/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định hồ sơ, các mẫu văn bản thực hiện giám định tư pháp; áp dụng quy chuẩn chuyên môn cho hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực văn hóa; điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giám định của văn phòng giám định tư pháp về dị vật, cổ vật, quyền tác giả, quyền liên quan

Sở hữu trí tuệ , Tư pháp-Hộ tịch , Văn hóa-Thể thao-Du lịch

Vui lòng đợi