Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ mới về Ban đại diện cha mẹ học sinh. Một trong những vấn đề được nhiều phụ huynh quan tâm là quy định này có áp dụng tại các trường tư thục, dân lập hay không? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp thắc mắc trên.
1. Thông tư số 81/2026/TT-BGDĐT về Ban phụ huynh có áp dụng với trường tư thục, dân lập?
Theo khoản 2 Điều 1 Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh ban hành kèm theo Thông tư 81 2026 TT BGDĐT quy định Điều lệ áp dụng đối với:
2. Điều lệ này áp dụng đối với:
a) Cơ sở giáo dục mầm non công lập, dân lập và tư thục;
b) Cơ sở giáo dục phổ thông công lập và tư thục;
c) Ban đại diện cha mẹ học sinh, cha mẹ học sinh, người đứng đầu cơ sở giáo dục, nhà giáo, nhân sự hỗ trợ giáo dục và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Theo đó đối với loại hình dân lập, khoản 2 Điều 1 nêu cụ thể Điều lệ Ban phụ huynh áp dụng đối với cơ sở giáo dục mầm non dân lập; còn đối với cơ sở giáo dục phổ thông, đối tượng áp dụng được xác định là cơ sở giáo dục phổ thông công lập và tư thục.
Do đó, từ ngày 15/11/2026, trường mầm non tư thục, dân lập và trường phổ thông tư thục thuộc phạm vi áp dụng của Điều lệ mới phải thực hiện các quy định về tổ chức, hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh và việc phối hợp giữa gia đình với cơ sở giáo dục theo Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT.

2. Ban đại diện cha mẹ học sinh có vị trí, vai trò gì?
Theo Điều 4 Điều lệ ban hành kèm Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT, Ban đại diện cha mẹ học sinh là tổ chức đại diện của cha mẹ học sinh, do cha mẹ học sinh bầu và được thành lập tại nhóm, lớp và cơ sở giáo dục.
Bên cạnh đó, Ban đại diện cha mẹ học sinh không thuộc cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục, không có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
Về vai trò, Ban đại diện cha mẹ học sinh có trách nhiệm đại diện, tập hợp và phản ánh ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cha mẹ học sinh. Đồng thời phối hợp với cơ sở giáo dục và cha mẹ học sinh trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non, học sinh.
Mặt khác, Ban đại diện cha mẹ học sinh chịu trách nhiệm trước cha mẹ học sinh đã bầu ra Ban đại diện về việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền theo quy định của Điều lệ.
3. Quyền và nghĩa vụ của Ban đại diện cha mẹ học sinh
Để thực hiện vai trò đại diện và phối hợp với nhà trường, theo khoản 7, khoản 8 Điều 6 Điều lệ ban hành kèm Thông tư 81 2026 BGDĐT, Ban đại diện cha mẹ học sinh cơ sở giáo dục có các nhiệm vụ và quyền sau:
Ban đại diện cha mẹ học sinh cơ sở giáo dục có các nhiệm vụ sau:
- Đại diện cha mẹ học sinh tham gia phối hợp với cơ sở giáo dục;
- Tổng hợp, phản ánh ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cha mẹ học sinh và Ban đại diện cha mẹ học sinh các nhóm, lớp;
- Phối hợp với người đứng đầu cơ sở giáo dục trong chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non, học sinh;
- Phối hợp thực hiện các hoạt động có sự tham gia của cha mẹ học sinh theo kế hoạch giáo dục của cơ sở giáo dục;
- Hỗ trợ trao đổi thông tin, phản ánh, kiến nghị và đối thoại giữa cha mẹ học sinh với cơ sở giáo dục;
- Báo cáo kết quả hoạt động với Hội nghị Ban đại diện cha mẹ học sinh các nhóm, lớp.
Đồng thời, Ban đại diện cha mẹ học sinh cơ sở giáo dục có các quyền sau:
- Được cung cấp thông tin cần thiết liên quan trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ;
- Tham gia ý kiến về nội dung phối hợp trong chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non, học sinh;
- Phản ánh, kiến nghị với người đứng đầu cơ sở giáo dục về các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ của Ban;
- Đề nghị người đứng đầu cơ sở giáo dục tổ chức trao đổi, đối thoại với cha mẹ học sinh về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non, học sinh;
- Được cơ sở giáo dục tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ theo quy định.
4. Ban đại diện cha mẹ học sinh không được làm những gì?
Bên cạnh việc quy định quyền và nhiệm vụ, Điều 10 Điều lệ ban hành kèm Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT còn quy định cụ thể những việc Ban đại diện cha mẹ học sinh và thành viên Ban đại diện không được làm.
Trước hết, Ban đại diện không được can thiệp vào hoạt động quản trị, quản lý, điều hành và chuyên môn của cơ sở giáo dục. Cụ thể, không được:
- Can thiệp vào tổ chức bộ máy, quản trị, quản lý, điều hành và hoạt động chuyên môn của cơ sở giáo dục;
- Can thiệp vào việc thực hiện chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, kiểm tra, đánh giá trẻ mầm non, học sinh;
- Tham gia đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân sự hỗ trợ giáo dục.
Đồng thời, Ban đại diện và các thành viên không được lợi dụng danh nghĩa Ban đại diện để thực hiện hành vi trái pháp luật, trái Điều lệ; cản trở hoạt động của cơ sở giáo dục hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đáng chú ý, theo khoản 3, 4 và 5 Điều 10 Điều lệ, Ban đại diện cha mẹ học sinh không được đặt ra hoặc tổ chức thu các khoản đóng góp bắt buộc, bao gồm:
- Đặt ra khoản đóng góp bắt buộc;
- Ấn định hoặc phân bổ mức hỗ trợ, mức hỗ trợ bình quân, mức hỗ trợ tối thiểu hoặc thời hạn hỗ trợ;
- Ép buộc, gây áp lực đối với cha mẹ học sinh trong việc hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện;
- Sử dụng danh nghĩa Ban đại diện để vận động tài trợ cho cơ sở giáo dục;
- Thu, tiếp nhận, quản lý hoặc sử dụng tài trợ dành cho cơ sở giáo dục;
- Thu, tiếp nhận hoặc quản lý tiền hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh.
Ngoài ra, Điều 10 cũng cấm phân biệt đối xử hoặc gây bất lợi đối với trẻ mầm non, học sinh và cha mẹ học sinh vì việc tham gia hoặc không tham gia hoạt động, hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện.
Mặt khác, Ban đại diện cũng không được thu thập, cung cấp, sử dụng hoặc công khai trái quy định thông tin, dữ liệu cá nhân, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của trẻ mầm non, học sinh, cha mẹ học sinh và cá nhân có liên quan.
Riêng đối với việc hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện, Điều 17 Điều lệ quy định cha mẹ học sinh tự nguyện quyết định việc hỗ trợ, thông qua việc trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cần thiết hoặc thanh toán trực tiếp cho tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Ban đại diện cha mẹ học sinh không được đề xuất hoặc sử dụng khoản hỗ trợ để xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất; mua sắm, lắp đặt, bảo dưỡng trang thiết bị; phục vụ hoạt động quản trị, quản lý, điều hành, chuyên môn; chi thù lao, tiền công, tiền thưởng, quà tặng cho cán bộ, giáo viên; hoặc chi cho các dịch vụ phục vụ hoạt động thường xuyên thuộc trách nhiệm của cơ sở giáo dục.
Trên đây là thông tin liên quan đến Thông tư số 81/2026/TT-BGDĐT về Ban phụ huynh có áp dụng với trường tư thục, dân lập? Xem chi tiết tại Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT áp dụng từ ngày 15/11/2026...
RSS