Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT quy định khá rõ phạm vi hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh. Vậy Ban đại diện cha mẹ học sinh không được làm những việc gì?
- 1. Không được can thiệp vào hoạt động quản lý, điều hành và chuyên môn của nhà trường
- 2. Không được đặt ra khoản đóng góp bắt buộc hoặc ép buộc cha mẹ học sinh hỗ trợ
- 2.1. Không được ấn định mức đóng góp
- 2.2. Không được lập danh sách hoặc yêu cầu cha mẹ học sinh phải hỗ trợ
- 3. Không được thu tiền hỗ trợ hoặc sử dụng danh nghĩa Ban đại diện cha mẹ học sinh để vận động tài trợ cho nhà trường
- 3.1. Không được thu, tiếp nhận hoặc quản lý tiền hỗ trợ
- 3.2. Không được vận động tài trợ cho cơ sở giáo dục
- 4. Không được sử dụng hỗ trợ vào các khoản thuộc trách nhiệm của nhà trường
- 5. Không được phân biệt đối xử, xâm phạm dữ liệu cá nhân hoặc thành lập Ban không đúng quy định
- 5.1. Không được gây bất lợi vì cha mẹ học sinh không tham gia hoặc không hỗ trợ
- 5.2. Không được thu thập, sử dụng hoặc công khai trái phép thông tin cá nhân
- 5.3. Không được thành lập Ban đại diện ngoài mô hình được Điều lệ quy định

1. Không được can thiệp vào hoạt động quản lý, điều hành và chuyên môn của nhà trường
Theo khoản 1 Điều 10 Điều lệ ban hành kèm theo Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT, Ban đại diện cha mẹ học sinh và thành viên Ban đại diện không được can thiệp vào tổ chức bộ máy, quản trị, quản lý, điều hành và hoạt động chuyên môn của cơ sở giáo dục.
Cụ thể, Ban đại diện không được:
- Can thiệp vào tổ chức bộ máy của cơ sở giáo dục;
- Can thiệp vào hoạt động quản trị, quản lý, điều hành;
- Can thiệp vào việc thực hiện chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục;
- Can thiệp vào việc kiểm tra, đánh giá trẻ mầm non, học sinh;
- Tham gia đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân sự hỗ trợ giáo dục.
Quy định này cũng phù hợp với khoản 4 Điều 3 Điều lệ, theo đó Ban đại diện cha mẹ học sinh chỉ hoạt động trong phạm vi nhiệm vụ, quyền được giao; không thay thế hoặc làm chuyển giao trách nhiệm của gia đình, cơ sở giáo dục, người đứng đầu cơ sở giáo dục, nhà giáo và các chủ thể có liên quan.
Như vậy, Ban đại diện có thể tham gia phối hợp, phản ánh, kiến nghị hoặc đề nghị đối thoại, nhưng không được thay nhà trường quyết định các vấn đề thuộc quản lý, điều hành hoặc chuyên môn.
2. Không được đặt ra khoản đóng góp bắt buộc hoặc ép buộc cha mẹ học sinh hỗ trợ
2.1. Không được ấn định mức đóng góp
Theo khoản 3 Điều 10 Điều lệ ban hành kèm theo Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT, Ban đại diện cha mẹ học sinh và thành viên Ban đại diện không được:
- Đặt ra khoản đóng góp bắt buộc;
- Ấn định hoặc phân bổ mức hỗ trợ;
- Ấn định mức hỗ trợ bình quân;
- Ấn định mức hỗ trợ tối thiểu;
- Ấn định thời hạn hỗ trợ;
- Ép buộc, gây áp lực đối với cha mẹ học sinh trong việc hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện.
2.2. Không được lập danh sách hoặc yêu cầu cha mẹ học sinh phải hỗ trợ
Quy định tại Điều 17 Điều lệ tiếp tục làm rõ nguyên tắc này. Theo đó, trường hợp cần hỗ trợ để thực hiện một hoạt động cụ thể thuộc nhiệm vụ, quyền của Ban đại diện và hoạt động đó đã được xác định trong kế hoạch, Ban phải công khai với cha mẹ học sinh về:
- Mục đích;
- Nội dung hoạt động;
- Nhu cầu hỗ trợ;
- Phương thức thực hiện.
Cha mẹ học sinh tự nguyện quyết định việc hỗ trợ. Ban đại diện không được ấn định hoặc phân bổ mức hỗ trợ; không xác định mức hỗ trợ bình quân, mức tối thiểu, thời hạn hỗ trợ; không lập danh sách cha mẹ học sinh phải hỗ trợ hoặc yêu cầu một cha mẹ học sinh cụ thể thực hiện hỗ trợ.
Nếu mức hỗ trợ thực tế không đủ so với nhu cầu dự kiến thì Ban đại diện phải điều chỉnh nội dung, quy mô hoặc phương thức thực hiện hoạt động cho phù hợp, thay vì yêu cầu cha mẹ học sinh phải đóng thêm.
3. Không được thu tiền hỗ trợ hoặc sử dụng danh nghĩa Ban đại diện cha mẹ học sinh để vận động tài trợ cho nhà trường
3.1. Không được thu, tiếp nhận hoặc quản lý tiền hỗ trợ
Theo khoản 5 Điều 10 Điều lệ, Ban đại diện cha mẹ học sinh và thành viên Ban đại diện không được:
- Thu tiền hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện;
- Tiếp nhận tiền hỗ trợ;
- Quản lý tiền hỗ trợ;
- Sử dụng hàng hóa, dịch vụ được hỗ trợ không đúng mục đích;
- Lợi dụng hoạt động của Ban đại diện để vụ lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân.
Theo khoản 3 Điều 17 Điều lệ, nếu cha mẹ học sinh tự nguyện hỗ trợ hoạt động cụ thể của Ban thì việc hỗ trợ được thực hiện thông qua một trong hai hình thức:
- Cung cấp trực tiếp hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho hoạt động;
- Thanh toán trực tiếp cho tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Điều lệ khẳng định rõ: Ban đại diện cha mẹ học sinh không thu, tiếp nhận hoặc quản lý tiền hỗ trợ.
3.2. Không được vận động tài trợ cho cơ sở giáo dục
Theo khoản 4 Điều 10 Điều lệ, Ban đại diện và thành viên Ban đại diện không được:
- Sử dụng danh nghĩa Ban đại diện cha mẹ học sinh để vận động tài trợ cho cơ sở giáo dục;
- Thu, tiếp nhận, quản lý hoặc sử dụng tài trợ dành cho cơ sở giáo dục.
Đồng thời, khoản 8 Điều 17 xác định việc vận động, tiếp nhận, quản lý, sử dụng và công khai tài trợ dành cho cơ sở giáo dục được thực hiện theo pháp luật về tài trợ cho cơ sở giáo dục và không thuộc phạm vi điều chỉnh đối với hoạt động hỗ trợ Ban đại diện.
Do đó, Ban đại diện không được lấy danh nghĩa của mình để đứng ra vận động hoặc quản lý khoản tài trợ dành cho nhà trường.
4. Không được sử dụng hỗ trợ vào các khoản thuộc trách nhiệm của nhà trường
Không chỉ cấm thu tiền, Điều lệ còn xác định cụ thể những nội dung không được đề nghị hoặc sử dụng hỗ trợ của cha mẹ học sinh.
Theo khoản 6 Điều 17 Điều lệ ban hành kèm theo Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT, không được đề nghị hoặc sử dụng hỗ trợ cho các nội dung sau:
- Xây dựng, cải tạo, sửa chữa cơ sở vật chất;
- Mua sắm, thuê, lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng trang thiết bị, đồ dùng và các điều kiện phục vụ hoạt động của nhóm, lớp hoặc cơ sở giáo dục;
- Hoạt động quản trị, quản lý, điều hành, chuyên môn;
- Việc tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục;
- Các nhiệm vụ khác thuộc trách nhiệm của cơ sở giáo dục;
- Chi trả thù lao, tiền công, tiền thưởng, quà tặng hoặc khoản hỗ trợ khác cho cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân sự hỗ trợ giáo dục;
- Dịch vụ phục vụ hoạt động thường xuyên của cơ sở giáo dục như bảo vệ, vệ sinh, trông giữ phương tiện và các dịch vụ khác thuộc trách nhiệm tổ chức, bảo đảm của cơ sở giáo dục;
- Nội dung không trực tiếp phục vụ hoạt động cụ thể thuộc nhiệm vụ, quyền của Ban đại diện hoặc nội dung bị cấm theo quy định.
Như vậy, khoản hỗ trợ cho hoạt động của Ban đại diện không được sử dụng để thay thế những khoản chi vốn thuộc trách nhiệm của cơ sở giáo dục.
5. Không được phân biệt đối xử, xâm phạm dữ liệu cá nhân hoặc thành lập Ban không đúng quy định
5.1. Không được gây bất lợi vì cha mẹ học sinh không tham gia hoặc không hỗ trợ
Theo khoản 6 Điều 10 Điều lệ, Ban đại diện và thành viên Ban đại diện không được phân biệt đối xử hoặc gây bất lợi đối với trẻ mầm non, học sinh, cha mẹ học sinh vì việc tham gia hoặc không tham gia hoạt động, hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh.
Nguyên tắc này tiếp tục được thể hiện tại khoản 5 Điều 17, theo đó việc hỗ trợ hay không hỗ trợ không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ mầm non, học sinh và cha mẹ học sinh, cũng không được dùng làm căn cứ để phân biệt đối xử hoặc gây bất lợi.
5.2. Không được thu thập, sử dụng hoặc công khai trái phép thông tin cá nhân
Theo khoản 7 Điều 10 Điều lệ, Ban đại diện cha mẹ học sinh và thành viên Ban đại diện không được thu thập, cung cấp, sử dụng hoặc công khai trái quy định của pháp luật các thông tin sau:
“Thu thập, cung cấp, sử dụng hoặc công khai trái quy định của pháp luật thông tin, dữ liệu cá nhân, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của trẻ mầm non, học sinh, cha mẹ học sinh và cá nhân có liên quan”
Đây cũng là một trong những nguyên tắc chung tại khoản 5 Điều 3 Điều lệ, yêu cầu hoạt động của Ban phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình.
5.3. Không được thành lập Ban đại diện ngoài mô hình được Điều lệ quy định
Theo khoản 8 Điều 10 Điều lệ, Ban đại diện và thành viên Ban đại diện không được:
- Thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh không đúng quy định của Điều lệ;
- Thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh liên trường;
- Thành lập Ban đại diện ở cấp hành chính;
- Thành lập tổ chức, đầu mối đại diện cha mẹ học sinh khác ngoài các mô hình được Điều lệ quy định.
Theo khoản 2 Điều 2 Điều lệ, Ban đại diện cha mẹ học sinh chỉ gồm Ban đại diện cha mẹ học sinh nhóm, lớp và Ban đại diện cha mẹ học sinh cơ sở giáo dục.
Ngoài những hành vi cụ thể nêu trên, khoản 9 Điều 10 cũng quy định Ban đại diện và thành viên Ban đại diện không được thực hiện các hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.
Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 15/11/2026 và thay thế Thông tư 55/2011/TT-BGDĐT.
Trên đây là thông tin về những việc Ban đại diện cha mẹ học sinh không được làm. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS