1. Người chấp hành xong án phạt tù được hỗ trợ học nghề, vay vốn và tìm việc thế nào?
Theo Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, người chấp hành xong hình phạt tù được hỗ trợ về đào tạo nghề, vay vốn, tư vấn, giới thiệu và tạo việc làm theo các quy định sau:
1.1. Hỗ trợ học nghề
Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, người chấp hành xong hình phạt tù khi tham gia các chương trình giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp thì:
-
Được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối với người học nếu thuộc đối tượng được hưởng chính sách theo quy định của pháp luật.
-
Trường hợp không thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền chính sách hỗ trợ đào tạo nghề.
Về việc tổ chức đào tạo, điểm a khoản 4 Điều 9 quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, lập danh sách người có nhu cầu học nghề; phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp tổ chức đào tạo nghề. Việc đào tạo được thực hiện theo nhu cầu của người học, yêu cầu của thị trường lao động và điều kiện thực tế của địa phương.
Đồng thời, theo điểm b khoản 4 Điều 9, việc đào tạo nghề được ưu tiên bố trí đối với người chấp hành xong hình phạt tù thuộc diện được ưu tiên tư vấn, giới thiệu việc làm quy định tại khoản 3 Điều 9.

1.2. Được xem xét vay vốn để tạo việc làm
Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, người chấp hành xong hình phạt tù được xem xét vay vốn để:
-
Hỗ trợ tạo việc làm;
-
Duy trì, mở rộng việc làm;
-
Đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Tuy nhiên, việc vay vốn không được thực hiện mặc nhiên mà người có nhu cầu phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về việc làm, tín dụng chính sách và pháp luật có liên quan.
Ngoài ra, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham mưu việc sử dụng các nguồn tín dụng hợp pháp để cho vay ưu đãi đối với người chấp hành xong hình phạt tù nhằm phát triển sản xuất, tạo việc làm.
Để hỗ trợ người có nhu cầu tiếp cận vốn, khoản 5 Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP quy định Công an cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp rà soát, xác định đối tượng và hướng dẫn lập hồ sơ vay vốn để đào tạo nghề, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, khi người chấp hành xong hình phạt tù đến Công an cấp xã trình diện, điểm c khoản 4 Điều 13 Nghị định 247/2026/NĐ-CP quy định người này được tư vấn, hỗ trợ thông tin về tạo việc làm, vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, đồng thời được giới thiệu, mời tham gia các mô hình tái hòa nhập cộng đồng hiện có tại địa phương.
1.3. Được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí
Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, người chấp hành xong hình phạt tù còn được tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ tạo việc làm theo quy định của pháp luật về việc làm.
Cụ thể hơn, khoản 3 Điều 9 quy định căn cứ nhu cầu của người chấp hành xong hình phạt tù và yêu cầu của thị trường lao động, Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo, phối hợp với tổ chức dịch vụ việc làm công và cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện:
-
Tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí;
-
Tiếp nhận, cập nhật thông tin;
-
Hỗ trợ kết nối việc làm phù hợp với khả năng, nhu cầu của người lao động và điều kiện thực tế của thị trường lao động.
Trong đó, Nghị định quy định ưu tiên tư vấn, giới thiệu việc làm đối với người chấp hành xong hình phạt tù thuộc một trong các trường hợp sau:
-
Không có nguồn thu nhập ổn định;
-
Thiếu kỹ năng nghề;
-
Có nguy cơ tái phạm cao;
-
Thuộc Nhóm B, Nhóm C theo kết quả đánh giá, phân loại quy định tại Điều 13 Nghị định 247/2026/NĐ-CP.
Đối với các trường hợp này, việc hỗ trợ tập trung vào kết nối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh phù hợp.
Như vậy, người chấp hành xong án phạt tù có thể được hỗ trợ đào tạo nghề theo chính sách dành cho người học hoặc chính sách hỗ trợ của địa phương; được xem xét vay vốn để tạo, duy trì, mở rộng việc làm hoặc đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khi đáp ứng điều kiện pháp luật; đồng thời được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí và hỗ trợ kết nối việc làm.
Một số nhóm gặp khó khăn về thu nhập, kỹ năng nghề hoặc có nguy cơ tái phạm cao được ưu tiên trong hoạt động đào tạo nghề và giới thiệu việc làm.
2. Cơ quan nào có trách nhiệm hỗ trợ học nghề, vay vốn và tìm việc?
Bên cạnh việc quy định chính sách đối với người chấp hành xong hình phạt tù, Nghị định 247/2026/NĐ-CP còn xác định trách nhiệm của chính quyền và cơ quan Công an ở địa phương trong quá trình thực hiện.
Theo khoản 7 Điều 22 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí ngân sách theo quy định của pháp luật; quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, vay vốn, tạo việc làm và các chính sách hỗ trợ phù hợp khác để tạo điều kiện cho người chấp hành xong hình phạt tù học nghề, tìm việc làm, hòa nhập cộng đồng.
Theo khoản 4 Điều 23 Nghị định 247/2026/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tạo điều kiện, vận động cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia hỗ trợ việc làm, học nghề cho người chấp hành xong hình phạt tù.
Đồng thời, khoản 7 Điều 25 Nghị định 247/2026/NĐ-CP giao Công an cấp xã phối hợp với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp vận động hỗ trợ việc làm, học nghề, vay vốn; tạo điều kiện để người chấp hành xong hình phạt tù ổn định cuộc sống.
Như vậy, việc hỗ trợ học nghề, vay vốn và tìm việc cho người chấp hành xong hình phạt tù được thực hiện với sự tham gia của nhiều cơ quan ở địa phương. Trong đó:
-
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm về chính sách và nguồn lực;
-
Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tạo điều kiện, vận động các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia hỗ trợ;
Công an cấp xã phối hợp vận động hỗ trợ việc làm, học nghề, vay vốn, góp phần tạo điều kiện để người chấp hành xong hình phạt tù ổn định cuộc sống và tái hòa nhập cộng đồng.
Trên đây là thông tin về việc Người chấp hành xong án phạt tù được hỗ trợ học nghề, vay vốn và tìm việc thế nào?…
RSS