7 điểm đáng chú ý tại Luật Định danh và xác thực điện tử (dự kiến)

 Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử quy định về đối tượng được định danh, danh tính điện tử, xác thực điện tử, Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia cùng quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia. Dưới đây là 07 nội dung đáng chú ý.

1. Mở rộng đối tượng được định danh điện tử

Theo Điều 7 dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử, đối tượng được định danh điện tử không chỉ gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân mà được mở rộng thành 05 nhóm.

Ngoài cơ quan, tổ chức, cá nhân, đối tượng định danh còn bao gồm các đối tượng vật chất như sản phẩm, hàng hóa, thiết bị, tài sản; đối tượng phi vật chất như cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, video, ứng dụng, phần mềm, dịch vụ số, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản số, di sản văn hóa phi vật thể; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm và không gian.

Theo Điều 8, cơ quan nhà nước thực hiện định danh đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân; đối tượng có thông tin thuộc dữ liệu cốt lõi hoặc dữ liệu quan trọng theo Luật Dữ liệu; đối tượng được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng; sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao và đối tượng thuộc bí mật nhà nước.

Với các đối tượng còn lại, tổ chức, doanh nghiệp đủ điều kiện có thể thực hiện định danh điện tử bằng hạ tầng do Nhà nước đầu tư hoặc tự đầu tư hệ thống, nền tảng, cơ sở hạ tầng đáp ứng điều kiện theo Luật.

điểm đáng chú ý tại Luật Định danh và xác thực điện tử

2. Hoạt động định danh điện tử gồm 8 giai đoạn

Điều 9 Dự thảo quy định hoạt động định danh điện tử được thực hiện xuyên suốt vòng đời của danh tính điện tử, gồm 08 giai đoạn: đăng ký; thu thập, kiểm tra, đối soát và chuẩn hóa thông tin; tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh; lưu trữ, cập nhật thông tin; khai thác, sử dụng; tạm dừng hiệu lực; chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực và liên kết danh tính điện tử.

Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức, danh tính điện tử phải có khả năng xác định duy nhất chủ thể và tương thích với thông tin nhân thân hoặc thông tin pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập.

Với sản phẩm, hàng hóa, tài sản, dữ liệu, địa điểm và các đối tượng khác, danh tính điện tử phải có khả năng liên kết với danh tính điện tử của chủ thể sở hữu hoặc quản lý hợp pháp. Khi các đối tượng này tham gia giao dịch hoặc thủ tục pháp lý, việc liên kết là bắt buộc.

Theo Điều 10, việc đăng ký định danh có thể thực hiện trực tuyến qua phần mềm, ứng dụng hoặc trực tiếp tại địa điểm được hướng dẫn.

Điều 11 quy định thông tin phục vụ định danh có thể được thu thập từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thông tin do chủ thể cung cấp hoặc thu thập trực tiếp từ đặc điểm, đặc tính của đối tượng. Dữ liệu phải được kiểm tra, đối chiếu, chuẩn hóa, loại bỏ trùng lặp và xác minh trước khi cấp mã định danh, tạo lập danh tính điện tử.

3. Mỗi đối tượng chỉ có một mã định danh quốc gia

Theo Điều 12, dự thảo quy định 02 loại mã định danh gồm mã định danh quốc gia và mã định danh tự chủ.

Mã định danh quốc gia được cấp cho các đối tượng thuộc phạm vi Nhà nước thực hiện định danh điện tử thông qua Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia, được thống nhất sử dụng trên phạm vi toàn quốc và liên thông quốc tế. Đáng chú ý, mỗi đối tượng chỉ được cấp một mã định danh quốc gia.

Trong khi đó, mã định danh tự chủ được cấp thông qua hệ thống của tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử. Một đối tượng có thể được cấp nhiều mã định danh tự chủ nhưng các mã được cấp sau phải liên kết với mã được cấp lần đầu.

Điều 13 tiếp tục phân chia danh tính điện tử thành danh tính điện tử quốc gia và danh tính điện tử tự chủ. Danh tính điện tử tự chủ phải được đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử khi tạo lập, thay đổi thông tin hoặc tạm dừng, chấm dứt hiệu lực.

Theo Điều 14 và Điều 15, danh tính điện tử quốc gia được lưu trữ tập trung và vĩnh viễn tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử. Danh tính điện tử tự chủ được lưu trữ tối thiểu 05 năm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Danh tính điện tử có thể thay giấy tờ trong nhiều trường hợp

Trong nhiều trường hợp, danh tính điện từ có thể thay các loại giấy tờ (Ảnh minh họa)

Một nội dung đáng chú ý tại Điều 16 là quy định về giá trị sử dụng của danh tính điện tử.

Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, danh tính điện tử có giá trị tương đương việc cung cấp hoặc xuất trình giấy tờ, tài liệu chứa thông tin tương ứng khi thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công và các giao dịch khác.

Đối với sản phẩm, hàng hóa và đối tượng phi vật chất, danh tính điện tử có giá trị tương đương việc xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền quản lý hợp pháp.

Với sự kiện, giao dịch, hành vi, danh tính điện tử có giá trị ghi nhận thông tin về sự kiện, hoạt động, giao dịch, hành vi và mối liên hệ giữa các đối tượng tham gia tại thời gian, địa điểm xác định. Đối với địa điểm và không gian, danh tính điện tử có giá trị xác định, định vị và phân biệt trên môi trường điện tử.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân được khai thác danh tính điện tử của mình và các đối tượng thuộc sở hữu thông qua Ứng dụng định danh quốc gia. Các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước và tổ chức cung cấp dịch vụ công được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử để phục vụ thủ tục hành chính, dịch vụ công và quản lý nhà nước.

5. Xác thực điện tử có 3 mức, kết quả có thể được dùng làm nguồn chứng cứ

Chương III Dự thảo quy định về hoạt động xác thực điện tử. Theo Điều 20, mọi đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh đều thuộc đối tượng được xác thực điện tử.

Điều 21 quy định 03 mô hình xác thực gồm xác thực tập trung, xác thực trung gian và xác thực độc lập.

Đáng chú ý, Điều 24 chia xác thực điện tử thành 03 mức. Mức độ 1 sử dụng một yếu tố xác thực; mức độ 2 sử dụng hai yếu tố thuộc nhóm yếu tố tri thức và yếu tố sở hữu; mức độ 3 sử dụng tối thiểu hai yếu tố, trong đó có ít nhất một yếu tố thuộc nhóm yếu tố đặc trưng. Bên sử dụng dịch vụ quyết định mức độ xác thực phù hợp với tính chất từng giao dịch.

Theo Điều 27, mọi hoạt động xác thực phải được ghi nhận vào nhật ký và lưu trữ tối thiểu 05 năm, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác. Dữ liệu kết quả xác thực từ Hệ thống định danh và xác thực điện tử hoặc hệ thống của tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử được sử dụng làm nguồn chứng cứ theo pháp luật về tố tụng.

Điều 29 còn quy định về chứng thư điện tử xác nhận thông tin. Đây là công cụ xác minh bổ sung sau khi hoàn thành xác thực điện tử, nhằm chứng minh thuộc tính, điều kiện hoặc quyền của chủ thể. Chứng thư do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ định danh điện tử cấp có giá trị pháp lý tương đương việc cung cấp thông tin trên giấy tờ bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp.

6. Ứng dụng định danh quốc gia có thể liên kết tài khoản ngân hàng, ví điện tử

Theo Điều 31, Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia gồm 05 thành phần: Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; Nền tảng định danh và xác thực điện tử; Ứng dụng định danh quốc gia; Hệ thống quản lý hiệu lực của danh tính điện tử và chứng thư điện tử xác nhận thông tin; các thành phần phần mềm, hệ thống nghiệp vụ liên quan khác.

Điều 32 quy định hệ thống được xây dựng, quản lý tập trung, thống nhất; dữ liệu phải lưu trữ tại Việt Nam, bảo đảm kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Đáng chú ý, Ứng dụng định danh quốc gia được dự kiến có nhiều chức năng như truy cập dữ liệu số; cung cấp miễn phí dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cho cá nhân phục vụ dịch vụ công; cung cấp dịch vụ công; liên kết tài khoản thanh toán, ví điện tử, thẻ ngân hàng và tài khoản tiền di động để thanh toán dịch vụ công, chi trả an sinh xã hội và các giao dịch hợp pháp khác.

Ứng dụng này đồng thời được xác định là kênh giao tiếp chính thức giữa người dân với Nhà nước, doanh nghiệp và giữa người dân với nhau.

Theo Điều 33, dữ liệu đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử gồm mã định danh, danh tính điện tử, loại đối tượng, cơ quan tạo lập, trạng thái hiệu lực và lịch sử hoạt động định danh, xác thực. Việc đồng bộ được thực hiện khi tạo lập, thay đổi, tạm dừng hoặc chấm dứt danh tính điện tử và trong thời hạn 24 giờ kể từ khi chủ thể thực hiện xác thực điện tử.

7. Sửa nhiều Luật, nền tảng thương mại điện tử phải kết nối hệ thống định danh

Điều 49 Dự thảo đề xuất sửa đổi, bổ sung một số luật có liên quan.

Đối với Luật Giao dịch điện tử 2023, dự thảo bổ sung cơ quan quản lý, vận hành Hệ thống định danh và xác thực điện tử vào nhóm chủ thể có thể cung cấp chứng thư chữ ký số công cộng.

Đối với Luật Căn cước 2023, dự thảo bãi bỏ khoản 14, 15 và 16 Điều 3; đồng thời bổ sung quy định về tạo lập, cấp, tích hợp, sử dụng và xác thực điện tử đối với căn cước.

Đáng chú ý, với Luật Thương mại điện tử 2025, dự thảo thay cụm từ “xác thực danh tính” bằng “xác thực điện tử” tại một số điều. Đồng thời, chủ quản nền tảng thương mại điện tử được quy định có trách nhiệm kết nối với Hệ thống định danh và xác thực điện tử để thực hiện định danh, xác thực đối với người bán, người livestream bán hàng và người tiếp thị liên kết.

Dự thảo cũng sửa Luật Chuyển đổi số 2025 để bổ sung dẫn chiếu đến pháp luật về định danh và xác thực điện tử; đồng thời bổ sung Phí khai thác và sử dụng thông tin trong Hệ thống định danh và xác thực điện tử vào Danh mục phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài chính.

Về chuyển tiếp, Điều 50 quy định các danh tính điện tử đã được tạo lập trước ngày Luật có hiệu lực tiếp tục được sử dụng đến khi chấm dứt hiệu lực. Tổ chức đang cung cấp dịch vụ xác thực điện tử phải đáp ứng đầy đủ điều kiện trong thời hạn 18 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực; quá thời hạn mà không đáp ứng thì phải dừng cung cấp dịch vụ.

Theo Điều 51, thời điểm Luật có hiệu lực sẽ do Quốc hội quyết định khi thông qua. Hiện văn bản vẫn đang ở giai đoạn dự thảo nên các nội dung trên có thể tiếp tục được nghiên cứu, chỉnh lý trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Trên đây là thông tin đề xuất 7 điểm đáng chú ý tại Luật Định danh và xác thực điện tử.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

[Cập nhật] Link tra cứu điểm chuẩn các trường đại học năm 2026

[Cập nhật] Link tra cứu điểm chuẩn các trường đại học năm 2026

[Cập nhật] Link tra cứu điểm chuẩn các trường đại học năm 2026

Điểm chuẩn đại học năm 2026 đang được các trường lần lượt công bố sau khi hoàn tất quá trình xét tuyển. Bài viết cập nhật link tra cứu điểm chuẩn các trường đại học năm 2026, giúp thí sinh và phụ huynh nhanh chóng kiểm tra kết quả xét tuyển tại từng trường.

Người làm tiếp thị liên kết trong thương mại điện tử phải chịu trách nhiệm gì từ 01/7/2026?

Người làm tiếp thị liên kết trong thương mại điện tử phải chịu trách nhiệm gì từ 01/7/2026?

Người làm tiếp thị liên kết trong thương mại điện tử phải chịu trách nhiệm gì từ 01/7/2026?

Tiếp thị liên kết ngày càng phổ biến trong hoạt động thương mại điện tử, kéo theo yêu cầu quản lý chặt chẽ hơn đối với người tham gia. Từ 01/07/2026, Luật Thương mại điện tử 2025 đặt ra những trách nhiệm cụ thể mà người làm tiếp thị liên kết cần lưu ý.

Lưu ý: Doanh nghiệp cần xác minh thông tin trước khi chuyển tiền nợ bảo hiểm xã hội

Lưu ý: Doanh nghiệp cần xác minh thông tin trước khi chuyển tiền nợ bảo hiểm xã hội

Lưu ý: Doanh nghiệp cần xác minh thông tin trước khi chuyển tiền nợ bảo hiểm xã hội

Lợi dụng việc cơ quan Bảo hiểm xã hội và Viện kiểm sát nhân dân đang triển khai việc thông báo, đôn đốc thu hồi tiền chậm đóng bảo hiểm, các đối tượng lừa đảo đã mạo danh cán bộ cơ quan Nhà nước, gọi điện, nhắn tin yêu cầu doanh nghiệp chuyển tiền vào tài khoản cá nhân.

9 nội dung đáng chú ý của Nghị quyết 20-NQ/TW 2026 về phát triển kinh tế biển

9 nội dung đáng chú ý của Nghị quyết 20-NQ/TW 2026 về phát triển kinh tế biển

9 nội dung đáng chú ý của Nghị quyết 20-NQ/TW 2026 về phát triển kinh tế biển

Ngày 28/07/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030 xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và xác định tầm nhìn phát triển đến năm 2045.