- 1. Lý lịch tư pháp sẽ được quản lý tập trung trên cơ sở dữ liệu quốc gia
- 2. Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú
- 3. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo
- 4. Bổ sung quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giải quyết tố cáo
- 5. Quy định cụ thể các khoản chi cho công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
- 6. Quy định cụ thể các đồ vật bị cấm đưa vào nơi giam giữ
1. Lý lịch tư pháp sẽ được quản lý tập trung trên cơ sở dữ liệu quốc gia
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 216/2026/NĐ-CP, Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý, vận hành, bảo vệ và lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị trực thuộc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp theo quy định.
Đồng thời, theo Điều 4 Nghị định 216/2026/NĐ-CP, Việc xây dựng, bảo vệ và lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải tuân thủ Luật Lý lịch tư pháp, Nghị định 216/2026/NĐ-CP và các quy định pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử, tiếp cận thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, chuyển đổi số và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan có liên quan.
Đáng chú ý, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng theo mô hình tập trung, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu phải phù hợp với các khung kiến trúc, khung quản trị dữ liệu quốc gia, tiêu chuẩn kỹ thuật về dữ liệu, công nghệ thông tin, an ninh mạng và khả năng phục hồi sau sự cố.
Nghị định cũng quy định dữ liệu lý lịch tư pháp đã có trong các cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ thì không thu thập lại. Đồng thời, mọi bản ghi dữ liệu phải được lưu vết truy cập, chỉnh sửa, cập nhật để bảo đảm có thể truy xuất lịch sử thay đổi và biến động dữ liệu.

2. Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú
Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 213/2026/NĐ-CP, Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú là tập hợp các dữ liệu về hoạt động thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú và các dữ liệu có liên quan, được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, chia sẻ, quản lý, cập nhật theo quy định.
Đồng thời, theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 213/2026/NĐ-CP, cơ sở dữ liệu này được xây dựng đồng bộ, tập trung, thống nhất, dùng chung trên phạm vi toàn quốc; bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn về cơ sở dữ liệu, an ninh mạng và khả năng kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan.
Khoản 6 Điều 20 Nghị định 213/2026/NĐ-CP cũng quy định việc tạo lập, cập nhật dữ liệu là nội dung bắt buộc của quy trình nghiệp vụ điện tử về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú. Dữ liệu phải được tạo lập khi phát sinh hoạt động nghiệp vụ, bảo đảm đồng bộ, thống nhất.
Bên cạnh đó, theo điểm c khoản 5 Điều 21 Nghị định 213/2026/NĐ-CP, dữ liệu phải được cập nhật chậm nhất trong 24 giờ kể từ thời điểm phát sinh hoặc có thay đổi thông tin liên quan đến quá trình tạm giữ, tạm giam và thay đổi nơi cư trú.
Như vậy, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú được thực hiện theo hướng tập trung, thống nhất trên toàn quốc, tăng cường số hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu và kiểm soát chặt chẽ việc khai thác, sử dụng thông tin.
3. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo
Theo Điều 3 Nghị định 197/2026/NĐ-CP, cơ sở dữ liệu được xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, nhằm thu thập, lưu trữ, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Đáng chú ý, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu được cập nhật, quản lý theo thời gian thực và có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu và pháp luật có liên quan. Trong trường hợp đáp ứng điều kiện về tính toàn vẹn, xác thực, khả năng truy cập, sử dụng và pháp luật không có quy định khác, dữ liệu này có thể được khai thác, sử dụng thay thế giấy tờ, tài liệu bản giấy.
Nghị định cũng quy định dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu được số hóa, chuẩn hóa, bao gồm cả dữ liệu có cấu trúc và dữ liệu phi cấu trúc. Các dữ liệu này được tổ chức, quản lý phù hợp để bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, liên thông và khai thác giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Trên cơ sở đó, Cơ sở dữ liệu được đặt tại Trung tâm dữ liệu quốc gia nhằm bảo đảm quản lý tập trung, thống nhất và an toàn.
Ngoài ra, theo Điều 4 Nghị định 197/2026/NĐ-CP, việc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu phải tuân thủ quy định pháp luật về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật có liên quan.
Việc quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu phải bảo đảm chặt chẽ, an toàn, ổn định, thông suốt; việc khai thác, sử dụng dữ liệu được thực hiện theo phân quyền, đúng mục đích, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng.
Một điểm đáng chú ý khác là Cơ sở dữ liệu được xây dựng theo nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, tạo điều kiện để người dân theo dõi, giám sát quá trình xử lý vụ việc của mình trên môi trường số.
Đồng thời, việc quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu phải bảo đảm công khai, minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc, lịch sử cập nhật và chủ thể thực hiện, qua đó phục vụ việc kiểm tra, giám sát và làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Như vậy, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo hướng tập trung, thống nhất, số hóa toàn trình, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu, hạn chế tối đa xử lý thủ công và nâng cao hiệu quả quản lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên môi trường số.
4. Bổ sung quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giải quyết tố cáo
Trước đây, Nghị định 31/2019/NĐ-CP chưa có quy định riêng về việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giải quyết tố cáo. Nội dung này đã được bổ sung tại Điều 19a Nghị định 31/2019/NĐ-CP, theo Điều 4 Nghị định 156/2026/NĐ-CP.
Theo quy định mới, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giải quyết tố cáo để cập nhật, theo dõi, quản lý, lưu trữ, kết nối và chia sẻ dữ liệu giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật.
Đáng chú ý, thông tin, dữ liệu về quá trình xử lý, giải quyết tố cáo phải được cập nhật kịp thời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Quy định này góp phần bảo đảm việc quản lý, theo dõi quá trình giải quyết tố cáo được thực hiện thống nhất trên môi trường số.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giải quyết tố cáo phải bảo đảm công khai, minh bạch, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.
Như vậy, quy định mới đã bổ sung cơ sở pháp lý cho việc số hóa quy trình giải quyết tố cáo, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và nâng cao tính minh bạch, an toàn trong quá trình xử lý, giải quyết tố cáo.
5. Quy định cụ thể các khoản chi cho công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
Theo Điều 5 Nghị định 172/2026/NĐ-CP, Nội dung chi áp dụng chung đối với công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm:
-
Chi xử lý, lập, quản lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự.
-
Chi lấy ý kiến chuyên gia tư vấn trong nước, chuyên gia tư vấn nước ngoài đối với vụ việc phức tạp.
-
Chi dịch tài liệu, công chứng, chứng thực hồ sơ; dịch công thư, công hàm, văn bản, tài liệu trao đổi với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.
-
Chi phí cấp giấy tờ cần thiết cho người bị dẫn độ, người được chuyển giao.
-
Chi giám định, phiên dịch trong từng trường hợp cụ thể.
-
Chi chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký người dịch.
-
Chi chuyển phát hồ sơ, tài liệu ở trong nước, từ Việt Nam ra nước ngoài, từ cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về Việt Nam hoặc gửi cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài.
-
Chi tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tập huấn, họp, làm việc, nghiên cứu khoa học; chi bồi dưỡng chuyên môn trong nước và nước ngoài.
-
Chi tổ chức đoàn khảo sát, kiểm tra liên ngành trong nước; đoàn khảo sát, đánh giá kinh nghiệm và nhu cầu hợp tác của nước ngoài.
-
Chi mua sắm đồ dùng, phương tiện, công cụ hỗ trợ và các điều kiện khác phục vụ công tác dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự; quản lý người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục liên quan.
-
Chi xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự; duy trì, bảo dưỡng, nâng cao hiệu suất hệ thống thông tin; ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, bao gồm số hóa cơ sở dữ liệu.
-
Chi tiếp đoàn công tác nước ngoài khi bàn giao người bị dẫn độ, người được chuyển giao hoặc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.
-
Chi tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự.
-
Chi làm đêm, làm thêm giờ, làm ngày nghỉ, ngày lễ; chi thông tin liên lạc, văn phòng phẩm, in ấn hồ sơ, tài liệu, phát hành biểu mẫu, giấy tờ.
-
Các khoản chi cần thiết khác phục vụ trực tiếp công tác dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tương trợ tư pháp về hình sự.
6. Quy định cụ thể các đồ vật bị cấm đưa vào nơi giam giữ
Theo Điều 8 Thông tư 58/2026/TT-BCA, danh mục đồ vật cấm đưa vào nơi giam giữ gồm:
-
Vũ khí, vật liệu nổ, chất nổ, tiền chất nổ, công cụ hỗ trợ.
-
Chất gây mê, chất độc, khí độc, chất phóng xạ, hóa chất độc hại, nguy hiểm.
-
Chất ma túy và tiền chất ma túy.
-
Chất cháy, chất gây cháy.
-
Thiết bị, linh kiện điện tử, thông tin liên lạc cá nhân, phương tiện ghi âm, ghi hình; trừ thiết bị điện tử dùng trong y tế phục vụ sức khỏe cá nhân như máy trợ thính, máy trợ tim và thiết bị phụ trợ khác theo quy định, nếu được Thủ trưởng cơ sở giam giữ đồng ý.
-
Đồ dùng bằng kim loại, sành, sứ, đá, thủy tinh, đồ vật cứng, sắc nhọn và các loại dây có khả năng dùng để phá buồng giam, trốn khỏi nơi giam giữ, gây thương tích, gây mất an toàn hoặc gây nguy hại cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc người khác.
-
Sách, báo, ấn phẩm không được in, phát hành hợp pháp; tài liệu, tranh, ảnh, phim, băng đĩa có nội dung chống Nhà nước, truyền đạo trái phép, mê tín dị đoan, đồi trụy; tài liệu gây ảnh hưởng đến công tác quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam; phương tiện, công cụ dùng để đánh bạc.
-
Giấy, bút, mực, trừ trường hợp được Thủ trưởng cơ sở giam giữ đồng ý.
-
Rượu, bia, đồ uống có cồn, chất kích thích khác; thuốc lá, thuốc lá điện tử; thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần chưa được Thủ trưởng cơ sở giam giữ đồng ý.
-
Thực phẩm tươi sống hoặc thực phẩm đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản nhưng không có điều kiện bảo quản hoặc không bảo đảm an toàn thực phẩm.
-
Tiền Việt Nam đồng, thẻ dùng làm phương tiện thanh toán, ngoại tệ, giấy tờ có giá, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý khác.
-
Các đồ vật khác có thể gây mất an toàn cơ sở giam giữ, gây nguy hại cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc người khác, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường, sức khỏe hoặc có thể sử dụng vào mục đích vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật.
Như vậy, theo quy định mới, danh mục đồ vật bị cấm đưa vào nơi giam giữ được quy định cụ thể và toàn diện hơn, nhằm ngăn ngừa nguy cơ ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ cơ sở giam giữ, đồng thời bảo đảm an toàn cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam và cán bộ làm nhiệm vụ.
RSS