Nhân viên y tế thôn, tổ dân phố đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng. Vậy những ai thuộc diện được hưởng và mức hỗ trợ hằng tháng được xác định như thế nào?
1. Từ 15/7/2026, nhân viên y tế thôn, tổ dân phố được hỗ trợ bao nhiêu tiền mỗi tháng?
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 192/2026/NĐ-CP, trong thời gian công tác, nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản được hỗ trợ hằng tháng.
Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 192/2026/NĐ-CP, mức hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản bằng 0,7 lần hoặc 0,5 lần mức lương cơ sở, trong đó:
- Mức hỗ trợ 0,7 lần mức lương cơ sở/tháng áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại:
-
Các thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên;
-
Các thôn, bản tại các xã vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ;
-
Các tổ dân phố, khu phố có từ 500 hộ gia đình trở lên.
- Mức hỗ trợ 0,5 lần mức lương cơ sở/tháng áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại các thôn, bản, tổ dân phố còn lại.
Như vậy, từ 15/7/2026, mức hỗ trợ hằng tháng của nhân viên y tế thôn, tổ dân phố được xác định theo địa bàn công tác, với mức hỗ trợ từ 0,5 lần đến 0,7 lần mức lương cơ sở/tháng tùy từng trường hợp.
Theo mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2026 là 2,53 triệu đồng/tháng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP, mức hỗ trợ tương ứng là từ 1,265 triệu đồng/tháng đến 1,771 triệu đồng/tháng.

2. Ai được hưởng hỗ trợ hằng tháng theo Nghị định 192/2026/NĐ-CP?
Theo khoản 5 Điều 2 Nghị định 192/2026/NĐ-CP, đối tượng được hưởng chính sách gồm:
-
Nhân viên y tế làm công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu, khu dân cư (gọi chung là nhân viên y tế thôn, tổ dân phố);
-
Nhân viên y tế làm công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn, xã vùng bãi ngang, ven biển, hải đảo (gọi chung là cô đỡ thôn, bản).
3. Kinh phí thực hiện hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố
Theo khoản 3 Điều 8 Nghị định 192/2026/NĐ-CP, kinh phí thực hiện hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản do ngân sách địa phương bảo đảm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Như vậy, nguồn kinh phí chi trả chế độ hỗ trợ hằng tháng cho nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản được bố trí từ ngân sách địa phương, bảo đảm thực hiện đúng đối tượng, đúng mức hỗ trợ và theo quy định về phân cấp quản lý ngân sách.
Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 7 Nghị định 192/2026/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu thực tế và khả năng ngân sách của địa phương để trình Hội đồng nhân dân cùng cấp:
-
Xác định cụ thể số lượng nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản;
-
Quy định cụ thể mức hỗ trợ hằng tháng đối với các đối tượng này.
Việc xác định mức hỗ trợ cụ thể của địa phương phải bảo đảm không thấp hơn mức hỗ trợ tối thiểu do Chính phủ quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 192/2026/NĐ-CP, gồm mức 0,7 lần hoặc 0,5 lần mức lương cơ sở tùy theo từng nhóm địa bàn công tác.
Theo đó, địa phương có trách nhiệm chủ động cân đối, bố trí nguồn lực để triển khai chế độ hỗ trợ, góp phần duy trì hoạt động của mạng lưới nhân viên y tế thôn, tổ dân phố trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng.
RSS