1. Làm rõ đăng ký cư trú cho người chưa thành niên từ 01/7/2026
Khoản 4 Điều 4 Nghị định 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định 154/2024/NĐ-CP về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Theo quy định sau sửa đổi, trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ thì cha, mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.
Nếu đăng ký tại nơi không phải nơi cư trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ thì cha, mẹ hoặc người giám hộ vẫn phải thực hiện việc kê khai, xác nhận. Trường hợp người chưa thành niên được Tòa án quyết định giao cho cha hoặc mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng thì người được giao chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện kê khai, xác nhận.
So với quy định tại Điều 7 Nghị định 154/2024/NĐ-CP trước đây, nội dung mới đã cụ thể hóa rõ từng tình huống, đặc biệt bổ sung rõ trường hợp có quyết định của Tòa án về việc giao nuôi dưỡng.
Đáng chú ý, Nghị định 58/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định trong thời hạn tối đa 60 ngày kể từ ngày người chưa thành niên được đăng ký khai sinh, cha, mẹ, chủ hộ hoặc người giám hộ phải thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc khai báo thông tin cư trú cho người chưa thành niên.
Trường hợp cha, mẹ hoặc người giám hộ của trẻ dưới 6 tuổi có nơi thường trú nhưng không phải nơi thực tế sinh sống thì trẻ vẫn được đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ.
Điểm mới quan trọng là theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 58/2026/NĐ-CP (sửa đổi Điều 7 Nghị định 154/2024/NĐ-CP), khi đăng ký thường trú hoặc tạm trú cho trẻ dưới 6 tuổi tại nơi cư trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ, cơ quan đăng ký cư trú không phải thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký. So với trước đây, quy định này đã đơn giản hóa thủ tục, giảm bước xác minh hành chính.

2. Thủ tục xóa đăng ký thường trú: Quy định rõ thời hạn 01 ngày, 07 ngày
Khoản 6 Điều 4 Nghị định 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 9 Nghị định 154/2024/NĐ-CP về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú, trên cơ sở các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú 2020.
Theo quy định mới, trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú của thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc ngay sau khi ban hành quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú phải thực hiện xóa đăng ký thường trú và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
- Trường hợp cơ quan đăng ký cư trú tiếp nhận thông tin phản ánh từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư về người thuộc diện bị xóa đăng ký thường trú theo điểm a, đ khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú 2020 dưới đây thì trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận thông tin, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh và thực hiện xóa đăng ký thường trú:
- Chết; có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích hoặc đã chết;
- Đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam
- Đối với các trường hợp thuộc điểm b, d, e, g, h, i khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú 2020, sửa đổi bởi Luật Luật số 118/2025/QH15, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày phát sinh sự kiện làm căn cứ xóa đăng ký thường trú, người thuộc diện xóa hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện theo pháp luật phải thực hiện thủ tục xóa. Các trường hợp này cụ thể như:
- Ra nước ngoài để định cư;
- Vắng mặt liên tục tại nơi thường trú từ 12 tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác hoặc không khai báo tạm vắng...
- Đã đăng ký thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ mà sau 12 tháng kể từ ngày chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ vẫn chưa đăng ký thường trú tại chỗ ở mới...
Hồ sơ gồm Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và giấy tờ, tài liệu chứng minh và được nộp trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).
So với quy định tại Điều 9 Nghị định 154/2024/NĐ-CP trước đây, Nghị định 58/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về thời hạn 01 ngày xử lý của cơ quan đăng ký cư trú và trách nhiệm 07 ngày của người dân.
3. Thủ tục xóa đăng ký tạm trú: bổ sung cơ chế chủ động của cơ quan quản lý
Khoản 7 Điều 4 Nghị định 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 10 Nghị định 154/2024/NĐ-CP về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký tạm trú, gắn với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú 2020, sửa đổi bởi Luật số 118/2025/QH15.
Tương tự thủ tục xóa thường trú, trong thời hạn 01 ngày kể từ khi nhận hoặc ban hành quyết định hủy bỏ đăng ký tạm trú, cơ quan đăng ký cư trú phải thực hiện xóa và cập nhật dữ liệu.
- Trường hợp tiếp nhận thông tin từ hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thuộc điểm a, d, đ khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú 2020 dưới đây thì trong 01 ngày làm việc phải kiểm tra, xác minh và thực hiện xóa:
- Chết; có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích hoặc đã chết;
- Đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam;
- Đã được đăng ký thường trú tại chính nơi tạm trú.
- Đối với các trường hợp thuộc điểm c, e, g, h khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú 2020 dưới nây, trong 07 ngày kể từ ngày phát sinh căn cứ xóa, người thuộc diện xóa hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện hợp pháp phải thực hiện thủ tục:
- Vắng mặt liên tục tại nơi tạm trú từ 06 tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác
- Người đã đăng ký tạm trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác;
- Người đã đăng ký tạm trú tại chỗ ở hợp pháp nhưng sau đó quyền sở hữu chỗ ở đó đã chuyển cho người khác, trừ trường hợp được chủ sở hữu mới đồng ý cho tiếp tục sinh sống tại chỗ ở đó;
- Người đăng ký tạm trú tại chỗ ở đã bị phá dỡ, tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tại phương tiện đã bị xóa đăng ký phương tiện theo quy định của pháp luật.
Sau khi nhận hồ sơ hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan đăng ký cư trú phải xóa đăng ký tạm trú và cập nhật dữ liệu.
Một điểm mới đáng chú ý là nếu thuộc diện xóa đăng ký tạm trú mà hộ gia đình chỉ có một người hoặc người có trách nhiệm không thực hiện thủ tục thì cơ quan đăng ký cư trú được quyền kiểm tra, xác minh, lập biên bản và thực hiện xóa đăng ký tạm trú. Quy định này làm rõ thẩm quyền chủ động của cơ quan quản lý so với quy định trước đây tại Điều 10 Nghị định 154/2024/NĐ-CP.
Ngoài ra, Nghị định 58/2026/NĐ-CP cũng bổ sung quy định về trường hợp cơ quan, đơn vị quản lý người học tập, công tác trong lực lượng vũ trang nhân dân có văn bản đề nghị xóa đăng ký tạm trú đối với người thuộc đơn vị mình quản lý, trong đó phải nêu rõ họ tên, ngày sinh, số định danh cá nhân và lý do đề nghị.
Trên đây là 03 quy định mới tại Nghị định 58/2026/NĐ-CP về đăng ký thường trú, tạm trú.
RSS