- 1. Doanh nghiệp không thông báo tập trung kinh tế bị phạt đến 2 tỷ đồng
- 2. Tăng mức phạt tối đa khi thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp bị cấm
- 3. Tăng mức phạt tiền khi cung cấp không đầy đủ thông tin, tài liệu theo yêu cầu
- 4. Bổ sung mức phạt tiền khi vi phạm về cung cấp thông tin, tài liệu
- 5. Bổ sung quy định về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử
- 6. Làm rõ hình thức nộp tiền phạt vi phạm hành chính
1. Doanh nghiệp không thông báo tập trung kinh tế bị phạt đến 2 tỷ đồng
Theo quy định mới được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 5 Nghị định 102/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế nhưng không thông báo tập trung kinh tế theo quy định của Luật Cạnh tranh thì bị phạt tiền như sau:
- Phạt tiền từ 500 triệu đồng - 01 tỷ đồng: Doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thuộc trường hợp đáp ứng hai yêu cầu dưới đây:
- Có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam, tổng doanh thu bán ra và tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt dưới 3.000 tỷ đồng trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế.
- Không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
- Phạt tiền từ 01 - 02 tỷ đồng: Doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đáp ứng hai yêu cầu dưới đây:
- Có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam hoặc tổng doanh thu bán ra hoặc tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt từ 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế.
- Không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
Trong khi đó, theo quy định cũ tại Điều 14 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, áp dụng chung 01 mức phạt tiền đối với hành vi không thực hiện nghĩa vụ thông báo:
Phạt tiền từ 01% đến 05% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế mà không thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định tại Điều 33 của Luật Cạnh tranh.

2. Tăng mức phạt tối đa khi thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp bị cấm
Theo khoản 3 Điều 6 Nghị định 102/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm bị phạt tiền từ 01% đến 05% tổng doanh thu trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
Quy định cũ tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, chỉ phạt tiền từ 01% đến 03% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đối với hành vi này.
3. Tăng mức phạt tiền khi cung cấp không đầy đủ thông tin, tài liệu theo yêu cầu
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 102/2026/NĐ-CP, hành vi không thực hiện việc cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh thì bị phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng.
Người bị xử phạt bao gồm:
- Bên bị điều tra;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc cạnh tranh;
- Các bên tập trung kinh tế;
- Các bên nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.
Quy định cũ tại khoản 2 Điều 22 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, mức phạt tiền này chỉ từ 10 - 20 triệu đồng.
4. Bổ sung mức phạt tiền khi vi phạm về cung cấp thông tin, tài liệu
Khoản 2 Điều 9 Nghị định 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 22 Nghị định 75/2019/NĐ-CP đã bổ sung mức phạt tiền từ 20 - 50 triệu đồn với hàng loạt vi phạm liên quan đến cung cấp thông tin, tài liệu trong vi phạm quy định về cạnh tranh khác như:
- Bên bị điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc cạnh tranh có những hành vi:
- Cung cấp thông tin, tài liệu không trung thực;
- Cưỡng ép người khác cung cấp thông tin, tài liệu không trung thực hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu.
- Các bên nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế, các bên nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm có những hành vi:
- Không cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia;
- Cung cấp thông tin, tài liệu gian dối, không trung thực hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu;
- Cưỡng ép người khác cung cấp thông tin, tài liệu gian dối, không trung thực hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu;
- Che giấu, tiêu hủy các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc cạnh tranh.

5. Bổ sung quy định về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử
Cụ thể, nội dung này được bổ sung tại Điều 17 Nghị định 102/2026/NĐ-CP như sau:
Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử; gửi, nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP.
6. Làm rõ hình thức nộp tiền phạt vi phạm hành chính
Tổ chức, cá nhân bị phạt tiền theo quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác thực hiện nộp tiền phạt theo các hình thức nêu tại Điều 15 Nghị định 102/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 32 Nghị định 75/2019/NĐ-CP như sau:
- Nộp tiền mặt trực tiếp tại:
- Kho bạc Nhà nước;
- Ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản.
Thông tin này được ghi trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác.
- Chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác thông qua:
- Cổng Dịch vụ công Quốc gia;
- Dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng/tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
Trong khi đó, theo quy định cũ tại Điều 32 Nghị định 75/2019/NĐ-CP chỉ quy định chung tổ chức, cá nhân bị phạt tiền theo quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác phải nộp tiền phạt tại Kho bạc Nhà nước ghi trong quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh khác.
Trên đây là quy định mới nhất giải đáp vấn đề: Doanh nghiệp vi phạm về cạnh tranh bị phạt thế nào?
RSS