Trong bối cảnh quy định về bảo hiểm xã hội tiếp tục được hoàn thiện, việc hiểu đúng và áp dụng đúng điều kiện hưởng thai sản là yếu tố then chốt giúp lao động nữ nhận tối đa quyền lợi thai sản năm 2026.
1. Quyền lợi thai sản 2026
1.1. Chế độ khám thai
Theo Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi khám thai như sau:
- Lao động nữ mang thai được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản để đi khám thai tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày.
- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi khám thai được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Ngoài ra, theo khoản 1, khoản 2 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về trợ cấp thai sản như sau:
- Trợ cấp thai sản một tháng của người lao động
- Trợ cấp thai sản 1 tháng = 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
-
Đối với người lao động đóng BHXH bắt buộc chưa đủ 06 tháng:
Trợ cấp thai sản 1 tháng = mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của các tháng đã đóng
- Trợ cấp thai sản một ngày
Trợ cấp thai sản 1 ngày = Trợ cấp thai sản 1 tháng / 24
Theo đó, mức trợ cấp những ngày nghỉ việc đi khám thai = Số ngày nghỉ x trợ cấp thai sản 1 ngày = Số ngày nghỉ x Trợ cấp thai sản một tháng/24 = Số ngày nghỉ x (100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản)/24
Như vậy, người lao động được nghỉ việc khám thai tối đa 5 lần, mỗi lần tối đa 2 ngày.
Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 61 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ khi khám thai là một trong các giấy tờ sau:
- Bản chính hoặc bản sao giấy ra viện hoặc bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy tờ chứng minh quá trình điều trị nội trú của người lao động trong trường hợp điều trị nội trú
- Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội trong trường hợp điều trị ngoại trú;
- Bản chính hoặc bản sao giấy ra viện có thể hiện thông tin chỉ định về thời gian cần điều trị ngoại trú sau thời gian điều trị nội trú.
Như vậy, sau mỗi lần nghỉ khám thai, người lao động có thể nộp cho công ty một trong những giấy tờ trên để đề nghị hưởng chế độ thai sản khi khám thai.

1.2. Thời gian nghỉ thai sản tối đa 7 tháng
Theo khoản 1 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con như sau:
- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động.
-
Trường hợp lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con theo quy định tại khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Lao động thì được hưởng tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả và tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo mức quy định tại Điều 59 của Luật này
-
Người sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc cho thời gian người lao động trở lại làm việc.
Theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, số 45/2019/QH14 được sửa đổi bổ sung bởi Luật Dân số 2025, số 71/2025/QH15 quy định về nghỉ thai sản như sau:
- Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng
- Trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
- Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng
Như vậy, lao động nữ có thể nghỉ thai sản lên đến 7 tháng trong trường hợp sinh con thứ hai hoặc sinh đôi trở lên. Nếu lao động nữ quay lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, họ vẫn được hưởng tiền lương cho những ngày làm việc và trợ cấp thai sản theo quy định.
Thời gian nghỉ trước khi sinh đối với lao động nữ không quá 02 tháng. Tuy nhiên, nếu có đủ sức khỏe để làm việc trước khi sinh con, lao động nữ hoàn toàn có thể đi làm đến sát ngày dự sinh để sau này có thêm nhiều thời gian chăm sóc con nhỏ.
Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 61 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thai sản đối với lao động nữ sinh con như sau:
- Bản sao giấy khai sinh
- Trích lục khai sinh
- Bản sao giấy chứng sinh của con
Nếu NLĐ nghỉ việc thì tự mang hồ sơ gồm Bản sao Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng sinh của con, Giấy ra viện, Sổ BHXH và CCCD đến cơ quan BHXH để hưởng.
1.3. Trợ cấp thai sản trong thời gian sinh con
Theo khoản 1 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về trợ cấp thai sản như sau:
- Trợ cấp thai sản một tháng của người lao động
- Trợ cấp thai sản một tháng = 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
-
Đối với người lao động đóng BHXH bắt buộc chưa đủ 06 tháng:
Trợ cấp thai sản 1 tháng = mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của các tháng đã đóng
Theo khoản 1 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 thì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con được thực hiện theo quy định tại Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, số 45/2019/QH14 được sửa đổi bổ sung bởi Luật Dân số 2025, số 71/2025/QH15:
- Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng
- Trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
- Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng
- Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Theo đó, mức hưởng trợ cấp thai sản trong thời gian sinh con = 100% x Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH 6 tháng trước khi nghỉ x X tháng
Trong đó: X tháng là số tháng nghỉ việc hưởng chế độ thai sản
1.4. Trợ cấp 1 lần
Theo khoản 1 Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con như sau:
- Trợ cấp một lần khi sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi
-
Lao động nữ sinh con có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 của Luật này thì được trợ cấp một lần khi sinh con.
-
Lao động nữ sinh con nhưng không đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 của Luật này mà người chồng có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 50 của Luật này thì người chồng được trợ cấp một lần.
Theo khoản 4 Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15:
- Mức trợ cấp một lần cho mỗi con quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này bằng 02 lần mức tham chiếu tại tháng lao động nữ sinh con, nhận con do nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi.
Theo khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15:
- Khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng mức lương cơ sở. Tại thời điểm mức lương cơ sở bị bãi bỏ thì mức tham chiếu không thấp hơn mức lương cơ sở đó.
Hiện nay, theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 73/2024/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng.
Như vậy, mức trợ cấp một lần khi sinh con = 2 x 2.340.000 đồng/tháng = 4.680.000 đồng.
Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 61 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thai sản đối với lao động nữ sinh con như sau:
- Bản sao giấy khai sinh
- Trích lục khai sinh
- Bản sao giấy chứng sinh của con
Lưu ý: Hồ sơ nộp cùng chế độ thai sản 6 tháng
1.5. Nghỉ dưỡng sức sau sinh
Theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản như sau:
- Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 52, khoản 1 hoặc khoản 4 Điều 53, điểm a khoản 3 Điều 54 của Luật này, lao động nữ chưa phục hồi sức khỏe thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.
-
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe liên tục bao gồm cả ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.
-
Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.
- Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều này do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định; trường hợp hai bên có ý kiến khác nhau thì người sử dụng lao động quyết định số ngày nghỉ trên cơ sở đề nghị của Ban Chấp hành công đoàn cơ sở, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tối đa được quy định như sau:
-
10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên
-
07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật
-
05 ngày đối với trường hợp khác.
- Mức hưởng cho một ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản = 30% mức tham chiếu.
Như vậy, sau khi hết thời gian nghỉ thai sản trong 30 ngày đầu làm việc lại nếu người lao động thấy sức khỏe chưa hồi phục thì được nghỉ dưỡng sức từ 5-10 ngày. Người sử dụng lao động lập danh sách gửi lên BHXH để hưởng tiền dưỡng sức sau sinh.
2. Cách để lao động nữ nhận tối đa tiền thai sản năm 2026
Theo Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 quy định về đối tượng và điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:
- Lao động nữ sinh con phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
Như vậy, để hưởng 100% tiền thai sản, người lao động phải đóng BHXH bắt buộc đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi nghỉ thai sản
Bên cạnh đó, theo Điểm a mục 2 Công văn 2388/BHXH-CSXH quy định về một số nội dung cần thực hiện khi giải quyết chế độ ốm đau, thai sản như sau:
- Khi thẩm định hồ sơ hưởng phải thực hiện kiểm tra, rà soát kỹ các giấy tờ làm căn cứ hưởng chế độ như: Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH, Giấy ra viện, Bệnh án, Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh, thời gian đóng BHXH… để phát hiện nếu có giấy tờ giả, tẩy xóa hoặc có nội dung nghi vấn về thời gian tham gia BHXH của lao động nữ có từ 6 tháng đến 8 tháng mà sinh con hoặc tăng giảm không bình thường…”
Đồng thời, theo quy định mục 2 Công văn số 1019/BHXH-CSXH về ngăn chặn tình trạng trục lợi chế độ thai sản quy định như sau:
- Đối với hồ sơ đã giải quyết hoặc đang đề nghị giải quyết hưởng chế độ thai sản từ ngày 01/01/2012 đến nay, Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố chỉ đạo khẩn trương kiểm tra, rà soát kỹ các trường hợp đề nghị giải quyết chế độ thai sản mà có thời gian đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
Qua kiểm tra, xác minh nếu phát hiện có hiện tượng đăng ký đóng BHXH nhưng thực tế không làm việc, không có tiền lương hoặc tiền công tại đơn vị thì không giải quyết hưởng chế độ thai sản, đồng thời báo cáo và đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cơ quan có chức năng của địa phương tiến hành thanh tra và kết luận xử lý vi phạm; những vụ vi phạm điển hình đề nghị truy tố trước pháp luật.
Như vậy, nếu thời gian tham gia BHXH của lao động nữ từ 06 tháng đến 08 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh thì khi đơn vị nộp hồ sơ ra cơ quan BHXH thì cơ quan BHXH phải thực hiện kiểm tra, rà soát kỹ các giấy tờ như hợp đồng lao động, bảng lương… để xác định thời gian đóng BHXH của người lao động.
Do đó, người lao động nên đóng nhiều hơn 06 tháng trong vòng 12 tháng trước sinh tránh bị thanh tra.
RSS
