“Nhảy việc” sau tết sao cho đúng luật?

“Nhảy việc” sau tết đang dần trở thành hiện tượng của một bộ phận người lao động sau khi nhận thưởng tết. Lương thưởng, chế độ đãi ngộ, chế độ phúc lợi không tốt hay thậm chí chỉ vì thích thì họ nhảy. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết được cách “nhảy việc” đúng luật.

Trào lưu nhảy việc sau tết (Ảnh minh họa)

Các trường hợp nhảy việc đúng luật

Điều 36 Bộ luật Lao động 2012 quy định 10 trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, cụ thể:

Nguyên nhân đến từ hai phía:

- Hết hạn hợp đồng lao động, riêng cán bộ công đoàn không chuyên trách hết hạn hợp đồng vẫn được làm việc cho đến hết nhiệm kỳ;

- Đã hoàn thành công việc;

- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

Nguyên nhân đến từ người lao động:

- Đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi làm việc trong điều kiện bình thường);

- Bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án;

- Chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết;

- Bị xử lý kỷ luật sa thải;

- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Nguyên nhân đến từ người sử dụng lao động:

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Với các trường hợp theo luật định nêu trên, người lao động được chủ động nhảy việc khi:

1. Hết hạn hợp đồng lao động;

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động;

4. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Đối với trường hợp hết hạn hợp đồng hoặc đã hoàn thành công việc hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động được chấm dứt hợp đồng lao động theo điều khoản của hợp đồng hoặc được sự đồng ý của người sử dụng lao động.

Đối với trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động cần phải lưu ý một số vấn đề trước khi nhảy việc.

 

Làm thế nào để nhảy việc đúng luật? (Ảnh minh họa)

Lưu ý để nhảy việc đúng luật

Điều 37 Bộ luật Lao động 2012 hướng dẫn trường hợp người lao động chủ động chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn/theo mùa vụ/theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc đã thỏa thuận;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện công việc;

đ) Được bầu hoặc bổ nhiệm vào cơ quan dân cử, bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

g) Bị ốm đau, tai nạn mà khả năng lao động chưa hồi phục sau khi điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và 1/4 thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo mùa vụ/theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

- Khi chấm dứt hợp đồng lao động theo một trong các trường hợp này, người lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động biết:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc nếu nghỉ việc vì không được bố trí đúng công việc, địa điểm, điều kiện làm việc đã thỏa thuận; không được trả đủ lương và đúng hạn; bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục mà chưa thể phục hồi;

b) Ít nhất 30 ngày với hợp đồng xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc với hợp đồng theo mùa vụ/theo công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng nếu phải nghỉ việc vì bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn; được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

c) Theo thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định đối với trường hợp e;

3. Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày thì được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp báo trước theo thời hạn chỉ định khi lao động nữ mang thai phải nghỉ việc.

Tùy vào từng hoàn cảnh, điều kiện mà người lao động lựa chọn cho mình lý do nhảy việc phù hợp, đúng luật để đảm bảo quyền lợi khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Xem thêm:

Quyền lợi người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng

3 lý do người lao động không nên chấm dứt HĐLĐ trái luật

Thùy Linh

Chủ đề: Bộ luật Lao động 2012 nhảy việc
Quang cao