Tăng giảm font chữ:

Khi nào được quyền xác định lại giới tính?

Trong thực tế có nhiều người phải nhờ sự can thiệp của y tế để xác định lại giới tính. Vậy theo quy định của pháp luật thì trường hợp nào được quyền xác định lại giới tính?

Các trường hợp xác định lại giới tính

Theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015, mỗi cá nhân đều có quyền được xác định giới tính trong trường hợp:

- Giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh

- Giới tính chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính

Theo đó, các tiêu chuẩn y tế xác định khuyết tật bẩm sinh về giới tính gồm:

- Nam lưỡng giới giả nữ

- Nữ lưỡng giới giả nam

- Lưỡng giới thật

- Nhiễm sắc thể giới tính có thể giống ba trường hợp nêu trên nhưng bộ phận sinh dục chưa được biệt hoá hoàn toàn và không thể xác định chính xác là nam hay nữ

Thông tin được quy định chi tiết tại Nghị định 88/2008/NĐ-CP.

Quyền xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật (Ảnh minh họa)


Các hành vi vi phạm khi xác định lại giới tính

Theo quy định tại Nghị định 88/2018/NĐ-CP các hành vi bị cấm liên quan đến việc xác định lại giới tính bao gồm:

- Thực hiện việc xác định lại giới tính khi chưa được phép của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Tiết lộ thông tin về việc xác định lại giới tính của người khác.

- Phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính

Mức phạt đối với từng hành vi vi phạm được quy định cụ thể tại Điều 35 Nghị định 176/2013/NĐ-CP. Theo đó, mức phạt cao nhất là 40 triệu đồng và buộc xin lỗi trực tiếp người bị phân biệt đối xử do đã xác định lại giới tính.

Ngoài ra, sau khi có giấy chứng nhận y tế đã xác định lại giới tính thì người này có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch, có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của pháp luật.

Xem thêm:

Tại Việt Nam có công nhận chuyển giới không?

Nguyễn Hương

Nguyễn HươngNguyễn Hương
Chia sẻ:

Tải App LuatVietnam miễn phí ngay hôm nay!

Dịch vụ tư vấn pháp luật

Vui lòng gửi thông tin tại đây!