AI Luật trả lời 5+ câu hỏi liên quan về Sở hữu trí tuệ

Nội dung dưới đây LuatVietnam tổng hợp một số câu hỏi, tình huống được người dùng hỏi trên AI Luật - Trợ lý LuatVietnam.vn đối với lĩnh vực Sở hữu trí tuệ.

Lưu ý: Toàn bộ nội dung trả lời cho các câu hỏi dưới đây đều do AI Luật - Trợ lý ảo LuatVietnam.vn cung cấp và chỉ mang tính chất tham khảo.

Câu hỏi: Tháng 6/2025, Nguyễn Văn A (một kỹ sư công nghệ thông tin) nhận thấy việc phát trực tuyến (streaming) các bộ phim bom tấn chiếu rạp và các chương trình truyền hình độc quyền thu hút lượng truy cập rất lớn. A đã lôi kéo một nhóm gồm 3 thành viên khác tham gia vào đường dây thiết lập website lậu để thu lợi bất chính từ quảng cáo. Trần Văn B vận hành website, Lê Thị C trực tiếp mua tài khoản VIP của các nền tảng xem phim trực tuyến chính thống dùng phần mềm chuyên dụng để bẻ khóa và tải trái phép các văn hóa phẩm này về. C cũng quay trộm các phim vừa ra mắt tại rạp. Hoàng Văn D tìm kiếm các đối tác quảng cáo để đặt banner, pop-up trên website nhằm thu lợi. Với quy mô và tính chất nêu trên, vụ án này sẽ bị truy tố hình sự như thế nào?

AI Luật trả lời:

Căn cứ vào Điều 225 Bộ luật Hình sự, số 100/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a, điểm b khoản 52 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, số 12/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, thì hành vi của Nguyễn Văn A và các đồng phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với các tình tiết như sau:

  1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm: a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình; b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên; d) Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên; đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

  3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
  4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng; b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm; c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm."

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 52 Bộ luật Hình sự, số 100/2015/QH13 về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hướng dẫn chi tiết tại Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP có hiệu lực từ ngày 15/11/2025, thì:

  • Hành vi phạm tội có tổ chức (nhiều người cùng thực hiện, có phân công vai trò rõ ràng) là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Nếu nhóm này thực hiện hành vi nhiều lần, có thể áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.

Phân tích vụ việc:
  • Nguyễn Văn A là người chủ mưu, lôi kéo, tổ chức nhóm thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với quy mô thương mại, có tổ chức, thu lợi bất chính từ quảng cáo.
  • Trần Văn B vận hành website, Lê Thị C trực tiếp bẻ khóa, tải trái phép, quay trộm phim, Hoàng Văn D tìm kiếm đối tác quảng cáo. Tất cả đều là đồng phạm, cùng thực hiện tội phạm có tổ chức.

  • Hành vi sao chép, phát tán, phân phối phim, chương trình truyền hình độc quyền khi chưa được phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Nếu tổng số tiền thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên hoặc giá trị hàng hóa vi phạm từ 100 triệu đồng trở lên, hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền từ 100 triệu đồng trở lên, thì đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 225.

  • Nếu thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên, hoặc giá trị hàng hóa vi phạm từ 500 triệu đồng trở lên, hoặc phạm tội có tổ chức, thì bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn tại khoản 2 Điều 225.

Tóm lại:

  • Nguyễn Văn A và các đồng phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 225 Bộ luật Hình sự, số 100/2015/QH13, với mức phạt tùy thuộc vào số lần phạm tội, số tiền thu lợi bất chính, giá trị hàng hóa vi phạm, mức độ tổ chức, vai trò của từng người trong nhóm.

  • Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bạn cần lưu ý, việc xác định chính xác khung hình phạt sẽ phụ thuộc vào kết quả điều tra, xác minh số tiền thu lợi bất chính, giá trị hàng hóa vi phạm, mức độ thiệt hại và vai trò của từng bị cáo trong vụ án.

Trích dẫn căn cứ pháp lý:

Nếu bạn cần phân tích sâu hơn về vai trò từng người hoặc các tình tiết cụ thể, vui lòng cung cấp thêm thông tin về số tiền thu lợi bất chính, giá trị hàng hóa vi phạm hoặc các tình tiết khác liên quan đến vụ án.

AI Luật trả lời 5+ câu hỏi liên quan về Sở hữu trí tuệ

Câu hỏi:  Khi nào dùng AI để cover các bài hát của ca sĩ và đăng tải lên các nền tảng mxh là vi phạm pháp luật? có thể bị truy tố bởi quy định nào?

AI Luật trả lời:

Căn cứ vào Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 01/07/2006, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 Luật số 36/2009/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, tiếp tục được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 7 Điều 1 Luật số 07/2022/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2023 thì:

“Điều 25. Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả:
  1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:
    a) Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép;
    b) Sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;
    c) Sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy…
  2. Việc sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
  3. Việc sao chép quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật, chương trình máy tính; việc làm tuyển tập, hợp tuyển các tác phẩm.”

Căn cứ vào Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 của Quốc hội được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 8 Điều 1 Luật số 07/2022/QH15:

“Điều 28. Hành vi xâm phạm quyền tác giả

2. Xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.

3. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại các điều 25, 25a và 26 của Luật này.”

Căn cứ vào Điều 225 Bộ luật Hình sự của Quốc hội, số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Điểm a Khoản 52 Điều 1 và Điểm b Khoản 52 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14:

“Điều 225. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

  1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;

b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.”

Như vậy, việc sử dụng AI để cover các bài hát của ca sĩ và đăng tải lên các nền tảng mạng xã hội sẽ vi phạm pháp luật trong các trường hợp sau:

  • Nếu bạn sử dụng AI để cover (tức là tạo ra bản sao, bản phái sinh) các bài hát mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả (thường là nhạc sĩ, ca sĩ, hãng thu âm…) và không thuộc các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 của Quốc hội thì đây là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

  • Nếu bạn đăng tải bản cover này lên mạng xã hội với mục đích thương mại (ví dụ: kiếm tiền từ quảng cáo, nhận tài trợ, thu phí…) hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả, bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 225 Bộ luật Hình sự của Quốc hội, số 100/2015/QH13.

  • Nếu hành vi cover và đăng tải này gây thiệt hại lớn hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên, hoặc thực hiện với quy mô thương mại, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tiền hoặc phạt tù theo quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự của Quốc hội, số 100/2015/QH13.

Tóm lại:

  • Nếu bạn dùng AI để cover bài hát và đăng tải lên mạng xã hội mà không xin phép chủ sở hữu quyền tác giả, không thuộc trường hợp ngoại lệ, đặc biệt là với mục đích thương mại hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu, thì đây là hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ và có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

  • Nếu bạn chỉ cover để học tập, nghiên cứu cá nhân, không nhằm mục đích thương mại, không đăng tải công khai hoặc không gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả thì có thể thuộc trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả.

Bạn cần lưu ý tuân thủ đúng quy định của pháp luật về quyền tác giả khi sử dụng AI để cover và đăng tải các bài hát lên mạng xã hội.

Câu hỏi: Điều kiện để hồ sơ đăng ký được phê duyệt quyền tác giả đối với tác phẩm là bản ghi âm giọng nói là gì?

AI Luật trả lời:

Căn cứ vào Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 có hiệu lực từ ngày 01/07/2006, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 14 Điều 1 Luật số 07/2022/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2023, và tiếp tục được bổ sung bởi điểm a khoản 13 Điều 1 và điểm b khoản 13 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/04/2026; đồng thời căn cứ vào Điều 38, Điều 39 Nghị định 17/2023/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 26/04/2023, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 21 Nghị định 134/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 09/04/2026, thì điều kiện để hồ sơ đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm là bản ghi âm giọng nói được phê duyệt bao gồm:

1. Đối tượng được đăng ký:

  • Bản ghi âm giọng nói phải là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả hoặc quyền liên quan theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

2. Chủ thể nộp hồ sơ:

  • Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan là cá nhân, tổ chức Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài có trụ sở, văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam có thể tự mình hoặc ủy quyền cho đại diện hợp pháp tại Việt Nam nộp hồ sơ.
  • Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài không có trụ sở, văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam phải nộp hồ sơ thông qua ủy quyền cho tổ chức dịch vụ đại diện quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam.

Câu hỏi: Thẩm quyền cấp Thẻ giám định viên quyền tác giả, quyền liên quan là cơ quan nào?

AI Luật trả lời:

Căn cứ vào Điều 98 Nghị định 17/2023/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 26/04/2023, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 28 Nghị định 134/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 09/04/2026 thì:

"

  1. Cá nhân đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 201 của Luật Sở hữu trí tuệ yêu cầu cấp Thẻ giám định viên quyền tác giả, quyền liên quan nộp 01 bộ hồ sơ yêu cầu cấp Thẻ giám định viên trên Cổng dịch vụ công trực tuyến hoặc trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính tới cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cá nhân thường trú. …

  2. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định cấp Thẻ giám định viên. …"

Như vậy, tại thời điểm hiện nay (ngày 21/05/2026), thẩm quyền cấp Thẻ giám định viên quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cá nhân thường trú.

Bạn có thể tham khảo thêm quy trình, thành phần hồ sơ và các thông tin chi tiết tại Quyết định 966/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Lưu ý:

  • Trước ngày 09/04/2026, thẩm quyền này thuộc về cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

  • Từ ngày 09/04/2026, theo quy định mới, thẩm quyền này đã chuyển về cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cá nhân thường trú.

Câu hỏi: Hiện tôi đang làm Đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả do chuyển quyền sở hữu, trong đó tác giả trước đây sử dụng CMND, nay đã đổi sang CCCD. Vậy tại phần Lý do cấp đổi, ngoài việc tích vào mục “chuyển đổi chủ sở hữu quyền tác giả”, tôi có cần tích thêm vào mục “thay đổi thông tin về tác giả” không?

AI Luật trả lời:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 41 Nghị định 17/2023/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 26/04/2023, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 20 Nghị định 134/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 09/04/2026 thì:

1. Cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan khi có thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc thông tin của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, tên tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.

Ngoài ra, theo hướng dẫn thủ tục tại Quyết định 966/QĐ-BVHTTDL, khi làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, bạn cần nêu rõ lý do cấp đổi. Các lý do phổ biến bao gồm: chuyển quyền sở hữu quyền tác giả, thay đổi thông tin về tác giả, thay đổi tên tác phẩm, v.v.

Trong trường hợp của bạn:

  • Việc chuyển từ Chứng minh nhân dân sang Căn cước công dân là thay đổi thông tin về tác giả (cụ thể là thay đổi giấy tờ tùy thân).

  • Đồng thời, bạn cũng thực hiện chuyển quyền sở hữu quyền tác giả.

Do đó, tại phần Lý do cấp đổi trên Đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, bạn nên tích chọn cả hai mục:

  • “Chuyển đổi chủ sở hữu quyền tác giả”

  • “Thay đổi thông tin về tác giả”

Việc này sẽ giúp cơ quan tiếp nhận hồ sơ hiểu rõ đầy đủ các căn cứ pháp lý cho việc cấp đổi, tránh phải bổ sung hồ sơ hoặc giải trình thêm về sau.

Tóm lại:

Bạn nên tích chọn cả hai mục “chuyển đổi chủ sở hữu quyền tác giả”“thay đổi thông tin về tác giả” trong phần Lý do cấp đổi của Đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Nếu cần tham khảo chi tiết về thành phần hồ sơ, bạn có thể xem tại Quyết định 966/QĐ-BVHTTDL.

Nếu còn vướng mắc về cách điền đơn hoặc thủ tục, bạn có thể liên hệ trực tiếp Cục Bản quyền tác giả để được hướng dẫn cụ thể.

Một số đặc điểm nổi bật của AI Luật - Trợ lý LuatVietnam.vn - Được huấn luyện trên hệ thống văn bản
Đúng - Đủ - Sạch - Sống
- Có đầy đủ căn cứ pháp lý (mới nhất) ở mỗi câu trả lời
- Văn phong tự nhiên như trò chuyện với chuyên gia...
Trải nghiệm ngay TẠI ĐÂY

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Tiêu chuẩn Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố [từ 26/5/2026 theo Nghị định 185/2026/NĐ-CP]

Tiêu chuẩn Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố [từ 26/5/2026 theo Nghị định 185/2026/NĐ-CP]

Tiêu chuẩn Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố [từ 26/5/2026 theo Nghị định 185/2026/NĐ-CP]

Từ 26/5/2026, tiêu chuẩn đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được thực hiện theo Nghị định 185/2026/NĐ-CP. So với trước đây, quy định mới đã bổ sung thêm nhiều yêu cầu mới nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư.

Ai có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 25/5/2026?

Ai có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 25/5/2026?

Ai có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 25/5/2026?

Thông tư 72/2026/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 25/5/2026 quy định chi tiết một số điều của Nghị định 66/2027/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị.

Bảng so sánh Nghị định 169/2026/NĐ-CP và Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt VPHC lĩnh vực hải quan

Bảng so sánh Nghị định 169/2026/NĐ-CP và Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt VPHC lĩnh vực hải quan

Bảng so sánh Nghị định 169/2026/NĐ-CP và Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt VPHC lĩnh vực hải quan

Nghị định 169/2026/NĐ-CP có nhiều thay đổi đáng chú ý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan. Dưới đây là bảng so sánh những điểm mới nổi bật giữa quy định mới và cũ để thuận tiện tra cứu, áp dụng. 

Năm 2026, những trường hợp nào không được đề nghị đặc xá?

Năm 2026, những trường hợp nào không được đề nghị đặc xá?

Năm 2026, những trường hợp nào không được đề nghị đặc xá?

Đặc xá là chính sách khoan hồng đặc biệt của Nhà nước dành cho người đang chấp hành án phạt tù có quá trình cải tạo tốt và đáp ứng các điều kiện theo quy định. Tuy nhiên, không phải mọi phạm nhân đều thuộc diện được xem xét đề nghị đặc xá. Vậy năm 2026, những trường hợp nào sẽ không được đề nghị đặc xá?