Từ ngày 01/7/2026, cách xác định thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với tiền lương, tiền công được thực hiện theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Quy định mới làm rõ căn cứ tính thuế, các khoản được giảm trừ và thời điểm xác định thu nhập tính thuế.
Cá nhân cư trú tính thuế TNCN ra sao?
Theo khoản 1 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được tính trên thu nhập tính thuế nhân với thuế suất theo Biểu thuế lũy tiến từng phần tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập cá nhân. Việc tính thuế không phụ thuộc nơi trả và nơi nhận thu nhập.
Thu nhập tính thuế được xác định bằng tổng thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế sau khi trừ các khoản bảo hiểm được phép giảm trừ, giảm trừ gia cảnh, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và khoản giảm trừ khác theo quy định.
Đáng chú ý, khoản đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ được trừ tối đa 03 triệu đồng/tháng, bao gồm cả phần người lao động và người sử dụng lao động đóng.
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là khi người sử dụng lao động trả lương hoặc khi người nộp thuế nhận được thu nhập, bao gồm cả lợi ích bằng tiền, không bằng tiền, phụ cấp, trợ cấp và các khoản thu nhập khác thuộc diện chịu thuế.
Trường hợp tiền lương được trả theo hình thức không bao gồm thuế TNCN, thu nhập phải được quy đổi theo quy định tại khoản 4 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Cá nhân không cư trú áp dụng thuế suất 20%
Theo Điều 64 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được tính bằng tổng tiền lương, tiền công nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam × thuế suất 20%. Trường hợp làm việc đồng thời tại Việt Nam và nước ngoài nhưng không tách riêng được thu nhập phát sinh tại Việt Nam, việc xác định thu nhập chịu thuế thực hiện theo công thức riêng tại Điều này.
Cùng LuatVietnam xem chi tiết Video hướng dẫn cách tính thuế TNCN từ tiền lương mới nhất ngay dưới đây:
>> Đăng ký theo dõi Kênh Youtube của LuatVietnam tại đây
RSS