Diện tích đất bình quân trên người học là một trong những tiêu chí đánh giá cơ sở vật chất của trường đại học. Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định yêu cầu cụ thể áp dụng từ năm 2030. Vậy từ năm 2030, diện tích đất bình quân trên người học của trường đại học phải đạt bao nhiêu?
- 1. Diện tích đất bình quân tối thiểu của trường đại học từ năm 2030
- 1.1. Quy định về mức diện tích đất tối thiểu
- 1.2. Thời gian áp dụng Quy định về diện tích đất
- 2. Cách tính diện tích đất bình quân trên người học
- 2.1. Công thức xác định diện tích đất bình quân
- 2.2. Diện tích đất được quy đổi theo vị trí khuôn viên như thế nào?
- 2.3. Số người học chính quy quy đổi được xác định ra sao?
- 2.4. Trường đại học có nhiều cơ sở, phân hiệu tính diện tích thế nào?
- 3. Trách nhiệm của trường đại học khi đánh giá chỉ số diện tích đất
- 3.1. Trường đại học phải tự đánh giá và công bố kết quả hằng năm
- 3.2. Không đạt diện tích đất tối thiểu thì trường đại học bị đánh giá thế nào?

1. Diện tích đất bình quân tối thiểu của trường đại học từ năm 2030
1.1. Quy định về mức diện tích đất tối thiểu
Điểm a khoản 3 Điều 6 Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định:
" Từ năm 2030, diện tích đất (có hệ số theo vị trí khuôn viên) tính bình quân trên một người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo không nhỏ hơn 25 m²."
Theo đó, yêu cầu về diện tích đất của trường đại học được xác định dựa trên ba yếu tố:
- Mức diện tích tối thiểu: Không nhỏ hơn 25 m² trên một người học chính quy quy đổi.
- Diện tích đất: Được tính có áp dụng hệ số theo vị trí khuôn viên.
- Số người học: Được quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo.
Như vậy, từ năm 2030, trường đại học phải đáp ứng chỉ số diện tích đất bình quân từ 25 m²/người học chính quy quy đổi trở lên.
1.2. Thời gian áp dụng Quy định về diện tích đất
Cũng theo điểm a khoản 3 Điều 6 Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT, yêu cầu diện tích đất bình quân tối thiểu 25 m²/người học chính quy quy đổi được áp dụng từ năm 2030.
Đồng thời, khoản 3 Điều 10 Thông tư quy định:
"Các tiêu chí, chỉ số có quy định lộ trình áp dụng nhưng chưa đến thời điểm áp dụng thì không thuộc phạm vi bắt buộc đánh giá và không bị xác định là chưa đạt (hoặc không đạt) khi xét điều kiện đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học."
Như vậy, trước năm 2030, chỉ số diện tích đất tối thiểu 25 m²/người học chưa thuộc phạm vi bắt buộc đánh giá theo lộ trình của Thông tư này. Từ năm 2030, chỉ số trên được áp dụng khi đánh giá mức độ đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
2. Cách tính diện tích đất bình quân trên người học
2.1. Công thức xác định diện tích đất bình quân
Mục IV Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định:
"Tổng diện tích đất của cơ sở GDĐH hoặc của một phân hiệu có nhân hệ số theo vị trí khuôn viên (S), chia cho số người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo (N) của cơ sở GDĐH hoặc của phân hiệu."
Theo đó, diện tích đất bình quân được xác định bằng công thức:
Diện tích đất bình quân = Tổng diện tích đất quy đổi (S) / Tổng số người học chính quy quy đổi (N)
Trong đó:
- S: Tổng diện tích đất được quy đổi theo vị trí khuôn viên.
- N: Tổng số người học chính quy được quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo.
2.2. Diện tích đất được quy đổi theo vị trí khuôn viên như thế nào?
Mục IV.3.1 Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định công thức xác định tổng diện tích đất quy đổi:
S = ∑ [S(i) × KVT(i)]
Trong đó:
- S(i): Diện tích đất tại khuôn viên thứ i mà cơ sở giáo dục đại học được cấp quyền sử dụng ổn định lâu dài hoặc sử dụng có thời hạn theo pháp luật đất đai để phục vụ hoạt động giáo dục đại học.
- KVT(i): Hệ số vị trí của khuôn viên thứ i.
Phụ lục II quy định hệ số vị trí khuôn viên như sau:
| Vị trí khuôn viên | Hệ số vị trí (KVT) |
| Khuôn viên nằm trong địa giới các xã, phường của các thành phố | 2,5 |
| Khuôn viên tại các tỉnh | 1,0 |
Như vậy, khi tính diện tích đất phục vụ đánh giá Chuẩn, trường đại học phải nhân diện tích đất của từng khuôn viên với hệ số vị trí tương ứng. Trường có nhiều khuôn viên thì tổng diện tích đất quy đổi được xác định bằng tổng diện tích quy đổi của từng khuôn viên.
2.3. Số người học chính quy quy đổi được xác định ra sao?
Cũng theo mục IV.3.1 Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT, số người học chính quy quy đổi được xác định theo công thức:
N = ∑ [(N1(j) × 1,0 + N2(j) × 1,5 + N3(j) × 2,0) × KDT(j)]
Trong đó:
- N1(j): Số sinh viên đại học chính quy thuộc lĩnh vực đào tạo j.
- N2(j): Số học viên cao học thuộc lĩnh vực đào tạo j.
- N3(j): Số nghiên cứu sinh thuộc lĩnh vực đào tạo j.
- KDT(j): Hệ số diện tích của lĩnh vực đào tạo j.
Theo đó, số người học được quy đổi trước hết theo trình độ đào tạo:
| Trình độ đào tạo | Hệ số quy đổi người học |
| Sinh viên đại học chính quy | 1,0 |
| Học viên cao học | 1,5 |
| Nghiên cứu sinh | 2,0 |
Sau đó, số người học quy đổi theo trình độ được nhân với hệ số diện tích của lĩnh vực đào tạo tương ứng.
Mục III Phụ lục II quy định hệ số diện tích khác nhau theo từng lĩnh vực, chẳng hạn:
- Nghệ thuật: 1,5.
- Kỹ thuật: 1,2.
- Sức khỏe: 1,2.
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản: 1,5.
- Pháp luật: 1,0.
- Kinh doanh và quản lý: 1,0.
Như vậy, quy mô người học dùng để tính diện tích đất bình quân không đơn thuần là tổng số sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh, mà phải được quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo.
2.4. Trường đại học có nhiều cơ sở, phân hiệu tính diện tích thế nào?
Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định đối với cơ sở đào tạo có phân hiệu hoặc tổ chức đào tạo tại nhiều địa điểm, diện tích đất được xác định tương ứng với quy mô người học hoặc khối lượng đào tạo được phân bổ cho từng địa điểm.
Việc phân bổ căn cứ vào:
- Số tín chỉ;
- Thời lượng học tập;
- Lượt sử dụng;
- Dữ liệu tổ chức đào tạo thực tế trong kỳ đánh giá.
Trường hợp các địa điểm được quản lý, điều phối và sử dụng chung trong cùng một cơ sở đào tạo, được phép tính tổng diện tích và tổng quy mô người học nếu có dữ liệu chứng minh khả năng tiếp cận, sử dụng chung. Tuy nhiên, không được tính trùng diện tích hoặc người học giữa các địa điểm.
Đồng thời, diện tích của một cơ sở đào tạo hoặc phân hiệu không được tính cho người học không học tập thường xuyên tại địa điểm đó. Đối với cơ sở đào tạo có phân hiệu, chỉ số diện tích đất được xác định riêng tại từng phân hiệu và đồng thời xác định chung đối với toàn cơ sở đào tạo theo hướng dẫn tại Phụ lục II.
3. Trách nhiệm của trường đại học khi đánh giá chỉ số diện tích đất
3.1. Trường đại học phải tự đánh giá và công bố kết quả hằng năm
Khoản 1 Điều 11 Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định:
"Cơ sở đào tạo thực hiện tự đánh giá mức độ đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học hằng năm trên cơ sở dữ liệu đã cập nhật theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này."
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 11, thời hạn đánh giá và công bố kết quả được xác định như sau:
| Nội dung | Thời hạn |
| Xác định dữ liệu không thuộc lĩnh vực tài chính | Ngày 31/12 của năm báo cáo |
| Hoàn thành báo cáo kết quả tự đánh giá | Chậm nhất 30/4 năm sau |
| Công bố kết quả tự đánh giá | Trước ngày 31/5 năm sau |
| Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo kết quả đánh giá Chuẩn | Trước ngày 30/6 hằng năm |
3.2. Không đạt diện tích đất tối thiểu thì trường đại học bị đánh giá thế nào?
Khoản 1 Điều 10 Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định kết quả đánh giá từng chỉ số được xác định theo ba trạng thái:
- Đạt: Kết quả thực tế đáp ứng hoặc vượt mức yêu cầu trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, hợp lệ và có thể kiểm chứng.
- Không đạt: Kết quả thực tế thấp hơn mức yêu cầu trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, hợp lệ và có thể kiểm chứng.
- Chưa đủ dữ liệu đánh giá: Dữ liệu thiếu, không hợp lệ, có sai lệch chưa được đối soát hoặc không thể xác định do lỗi kỹ thuật, sự cố hệ thống.
Như vậy, từ năm 2030, nếu diện tích đất bình quân theo phương pháp quy đổi thấp hơn 25 m²/người học và dữ liệu đã đầy đủ, hợp lệ, có thể kiểm chứng thì chỉ số này được xác định là không đạt.
Khoản 3 Điều 10 Nghị định cũng quy định cơ sở đào tạo được đánh giá là đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học khi tất cả tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số thuộc phạm vi áp dụng đều đạt. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 10 cũng xác định việc áp dụng biện pháp quản lý phải căn cứ vào chỉ số chưa đạt, nguyên nhân, tính chất, mức độ và phạm vi chưa đáp ứng, đồng thời tuân thủ quy định pháp luật có liên quan.
Do đó, không thể chỉ căn cứ vào một chỉ số diện tích đất chưa đạt để kết luận trường đại học đương nhiên phải chịu một biện pháp xử lý cụ thể.
Trên đây là nội dung về mức diện tích đất bình quân trên người học của trường đại học từ năm 2030. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT cùng Phụ lục I và Phụ lục II trên LuatVietnam.vn để tra cứu đầy đủ yêu cầu về cơ sở vật chất, công thức tính và lộ trình áp dụng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
RSS