Diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo là một trong những điều kiện bảo đảm cơ sở vật chất của trường đại học. Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định cụ thể mức diện tích tối thiểu và cách xác định. Vậy trường đại học phải bảo đảm diện tích sàn phục vụ đào tạo tối thiểu bao nhiêu?
- 1. Diện tích sàn phục vụ đào tạo tối thiểu của trường đại học
- 1.1. Mức diện tích sàn tối thiểu theo quy định
- 1.2. Những công trình nào được tính vào diện tích sàn phục vụ đào tạo?
- Thứ nhất, diện tích phục vụ giảng dạy, học tập và thực hành
- Thứ hai, diện tích làm việc và phục vụ hoạt động đào tạo
- 1.3. Chỗ làm việc của giảng viên phải đáp ứng yêu cầu gì?
- 2. Cách tính diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo
- 2.1. Công thức tính diện tích sàn bình quân trên người học
- 2.2. Diện tích sàn của từng công trình được xác định như thế nào?
- 2.4. Trường đại học có phân hiệu được tính diện tích sàn như thế nào?
- 3. Trách nhiệm đánh giá diện tích sàn của trường đại học
- 3.1. Trường đại học phải đánh giá diện tích sàn vào thời điểm nào?
- 3.3. Không đáp ứng diện tích sàn tối thiểu thì được đánh giá như thế nào?

1. Diện tích sàn phục vụ đào tạo tối thiểu của trường đại học
1.1. Mức diện tích sàn tối thiểu theo quy định
Điểm b khoản 3 Điều 6 Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định:
"Tiêu chí 3.2. Diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo trên số người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo không nhỏ hơn 2,8 m²; ít nhất 70% giảng viên cơ hữu được bảo đảm chỗ làm việc riêng biệt."
Theo đó, trường đại học phải đáp ứng đồng thời hai yêu cầu:
- Về diện tích sàn: Diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo bình quân phải đạt từ 2,8 m²/người học chính quy quy đổi trở lên.
- Về chỗ làm việc của giảng viên: Ít nhất 70% tổng số giảng viên cơ hữu phải được bảo đảm chỗ làm việc riêng biệt.
Diện tích sàn bình quân được tính trên số người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo, không phải lấy tổng diện tích sàn thực tế chia trực tiếp cho tổng số sinh viên.
1.2. Những công trình nào được tính vào diện tích sàn phục vụ đào tạo?
Khoản 8 Điều 2 Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo là tổng diện tích sàn xây dựng thuộc quyền sở hữu của cơ sở đào tạo hoặc thuộc quyền sở hữu của cơ quan chủ quản nhưng được giao quyền sử dụng hợp pháp để phục vụ trực tiếp hoạt động đào tạo.
Theo đó, diện tích sàn phục vụ đào tạo bao gồm:
Thứ nhất, diện tích phục vụ giảng dạy, học tập và thực hành
- Hội trường, giảng đường;
- Các loại phòng học, phòng đa năng;
- Phòng kỹ thuật, phòng thu;
- Phòng thí nghiệm;
- Xưởng thực tập, thực nghiệm, thực hành, luyện tập;
- Thư viện, trung tâm học liệu;
- Công trình huấn luyện, giảng dạy thể thao đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về thiết kế công trình ngành thể thao.
Thứ hai, diện tích làm việc và phục vụ hoạt động đào tạo
- Phòng làm việc của cán bộ quản lý;
- Phòng làm việc của giảng viên;
- Phòng làm việc của nhân viên hỗ trợ;
- Phòng làm việc của học viên cao học, nghiên cứu sinh;
- Các diện tích khác có công năng phục vụ giảng dạy, học tập, rèn luyện và nghiên cứu.
Khoản 8 Điều 2 đồng thời quy định không bao gồm diện tích công trình dịch vụ sinh hoạt hoặc dịch vụ kinh doanh, cho thuê.
Như vậy, khi xác định diện tích sàn phục vụ đào tạo, trường đại học phải căn cứ vào công năng sử dụng thực tế của công trình, không tính toàn bộ diện tích xây dựng của trường nếu có những phần diện tích phục vụ mục đích khác.
1.3. Chỗ làm việc của giảng viên phải đáp ứng yêu cầu gì?
Theo mục Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT, chỗ làm việc riêng biệt của giảng viên cơ hữu được xác định là vị trí có diện tích và bàn ghế làm việc riêng biệt tại cơ sở giáo dục đại học.
Chỗ làm việc có thể được bố trí trong phòng chung hoặc phòng riêng nhưng phải bảo đảm diện tích không ít hơn 6 m² cho mỗi người.
Theo đó:
- Giảng viên không bắt buộc phải có một phòng làm việc độc lập.
- Có thể bố trí nhiều giảng viên trong cùng một phòng.
- Mỗi giảng viên được tính là có chỗ làm việc riêng biệt phải có vị trí làm việc riêng và diện tích tối thiểu 6 m².
Tỷ lệ giảng viên cơ hữu có chỗ làm việc riêng biệt được xác định theo công thức:
Tỷ lệ giảng viên có chỗ làm việc riêng biệt = (Số giảng viên cơ hữu được bố trí chỗ làm việc riêng biệt / Tổng số giảng viên cơ hữu) × 100%
Theo Phụ lục II, tổng số giảng viên cơ hữu được xác định theo số giảng viên đang làm việc hợp lệ tính đến ngày 31/12 của năm đánh giá.
2. Cách tính diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo
2.1. Công thức tính diện tích sàn bình quân trên người học
Theo Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT, diện tích sàn bình quân được xác định bằng tổng diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo chia cho số người học chính quy quy đổi.
Công thức:
Diện tích sàn bình quân = Tổng diện tích sàn phục vụ đào tạo quy đổi (S) / Tổng số người học chính quy quy đổi (N)
Trong đó:
- S: Tổng diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo được xác định theo hệ số sử dụng của từng công trình.
- N: Tổng số người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo.
Để đáp ứng yêu cầu, kết quả tính theo công thức trên phải đạt tối thiểu 2,8 m²/người học chính quy quy đổi.
2.2. Diện tích sàn của từng công trình được xác định như thế nào?
Phụ lục II quy định công thức xác định tổng diện tích sàn phục vụ đào tạo:
S = ∑ [S(i) × KSD(i)]
Trong đó:
- S(i): Tổng diện tích sàn xây dựng của công trình thứ i, tính bằng m².
- KSD(i): Hệ số sử dụng diện tích của công trình thứ i phục vụ trực tiếp hoạt động đào tạo.
Theo Phụ lục II, hệ số sử dụng diện tích được xác định sau khi trừ những phần diện tích như:
- Tường xây;
- Hành lang;
- Cầu thang;
- Các hạng mục kỹ thuật;
- Những diện tích phục vụ mục đích khác.
Hệ số sử dụng diện tích KSD không được vượt quá 0,7.
Như vậy, diện tích sàn được sử dụng để đánh giá không phải toàn bộ diện tích sàn xây dựng ghi nhận trên hồ sơ công trình mà là diện tích được xác định theo hệ số sử dụng 2.3. Số người học được quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo
Cũng theo Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT, số người học chính quy quy đổi được xác định theo công thức:
N = ∑ [(N1(j) × 1,0 + N2(j) × 1,5 + N3(j) × 2,0) × KDT(j)]
Trong đó:
- N1(j): Số sinh viên đại học chính quy thuộc lĩnh vực đào tạo j.
- N2(j): Số học viên cao học thuộc lĩnh vực đào tạo j.
- N3(j): Số nghiên cứu sinh thuộc lĩnh vực đào tạo j.
- KDT(j): Hệ số diện tích tương ứng với lĩnh vực đào tạo j.
Theo đó, hệ số quy đổi người học theo trình độ gồm:
| Trình độ đào tạo | Hệ số |
| Sinh viên đại học chính quy | 1,0 |
| Học viên cao học | 1,5 |
| Nghiên cứu sinh | 2,0 |
Sau khi quy đổi theo trình độ, số người học tiếp tục được nhân với hệ số diện tích của từng lĩnh vực đào tạo.
Theo mục III Phụ lục II, một số hệ số diện tích được quy định như sau:
| Lĩnh vực đào tạo | Hệ số diện tích |
| Nghệ thuật | 1,5 |
| Khoa học tự nhiên | 1,2 |
| Kỹ thuật | 1,2 |
| Công nghệ kỹ thuật | 1,2 |
| Sức khỏe | 1,2 |
| Nông, lâm nghiệp và thủy sản | 1,5 |
| Pháp luật | 1,0 |
| Kinh doanh và quản lý | 1,0 |
Như vậy, cùng một số lượng người học thực tế nhưng quy mô người học quy đổi có thể khác nhau do sự khác biệt về trình độ và lĩnh vực đào tạo.
2.4. Trường đại học có phân hiệu được tính diện tích sàn như thế nào?
Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định đối với cơ sở đào tạo có phân hiệu, chỉ số diện tích sàn được xác định riêng tại từng phân hiệu và đồng thời xác định chung đối với toàn cơ sở đào tạo.
Theo đó, diện tích sàn được xác định tương ứng với quy mô người học hoặc khối lượng đào tạo phân bổ cho từng địa điểm theo dữ liệu tổ chức đào tạo thực tế.
Trường hợp các địa điểm được quản lý, điều phối sử dụng chung thì được phép tính tổng diện tích và tổng quy mô người học khi có dữ liệu chứng minh khả năng tiếp cận, sử dụng chung. Tuy nhiên, không được tính trùng diện tích hoặc người học giữa các địa điểm.
3. Trách nhiệm đánh giá diện tích sàn của trường đại học
3.1. Trường đại học phải đánh giá diện tích sàn vào thời điểm nào?
Khoản 1 Điều 11 Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định:
"Cơ sở đào tạo thực hiện tự đánh giá mức độ đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học hằng năm trên cơ sở dữ liệu đã cập nhật theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này."
Đồng thời, khoản 2 và khoản 3 Điều 11 quy định các mốc thời gian:
- Dữ liệu không thuộc lĩnh vực tài chính được xác định tại ngày 31/12 của năm báo cáo.
- Báo cáo kết quả tự đánh giá phải hoàn thành chậm nhất ngày 30/4 của năm sau.
- Cơ sở đào tạo công bố kết quả tự đánh giá trước ngày 31/5 năm sau.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo kết quả đánh giá Chuẩn cơ sở giáo dục đại học trước ngày 30/6 hằng năm.
Theo đó, chỉ số diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo được xác định trên cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá hằng năm của trường đại học.
3.3. Không đáp ứng diện tích sàn tối thiểu thì được đánh giá như thế nào?
Khoản 1 Điều 10 Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định kết quả đánh giá từng chỉ số được xác định theo ba trạng thái:
- Đạt: Kết quả thực tế đáp ứng hoặc vượt mức yêu cầu, dựa trên dữ liệu đầy đủ, hợp lệ và kiểm chứng được.
- Không đạt: Kết quả thực tế thấp hơn mức yêu cầu, dựa trên dữ liệu đầy đủ, hợp lệ và kiểm chứng được.
- Chưa đủ dữ liệu đánh giá: Thiếu dữ liệu, dữ liệu không hợp lệ, có sai lệch chưa được đối soát hoặc không thể xác định do lỗi kỹ thuật, sự cố hệ thống.
Theo đó, nếu diện tích sàn phục vụ đào tạo bình quân thấp hơn 2,8 m²/người học chính quy quy đổi và đã có đầy đủ dữ liệu hợp lệ thì chỉ số này được xác định là không đạt. Khoản 3 Điều 10 cũng quy định cơ sở đào tạo được đánh giá là đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học khi tất cả tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số thuộc phạm vi áp dụng đều đạt.
Tuy nhiên, khoản 4 Điều 10 Thông tư yêu cầu việc áp dụng biện pháp quản lý phải căn cứ vào nội dung, chỉ số chưa đạt, nguyên nhân, tính chất, mức độ và phạm vi chưa đáp ứng; không chỉ căn cứ vào kết luận tổng hợp về mức độ đáp ứng Chuẩn.
Trên đây là nội dung về diện tích sàn phục vụ đào tạo tối thiểu của trường đại học. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT trên LuatVietnam.vn để tra cứu đầy đủ mức diện tích, công thức tính và quy định đánh giá điều kiện cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục đại học.
RSS