- 1. Từ 05/10/2026, trẻ em thuộc trường hợp nào được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng?
- 2. Trẻ em bị bỏ rơi được trợ cấp xã hội hằng tháng bao nhiêu từ 05/10/2026?
- 3. Thủ tục đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho trẻ em bị bỏ rơi từ 05/10/2026
- 3.1. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho trẻ em bị bỏ rơi
- 3.2. Thời hạn giải quyết và thời điểm hưởng trợ cấp xã hội
- 3.3. Trường hợp thay đổi hoặc chấm dứt hưởng trợ cấp xã hội
1. Từ 05/10/2026, trẻ em thuộc trường hợp nào được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng?
Theo Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp không có nguồn nuôi dưỡng được xác định là đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Cụ thể, nhóm trẻ em này bao gồm:
-
Trẻ em dưới 16 tuổi bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
-
Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người còn lại không xác định được;
-
Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
-
Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
-
Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
-
Trẻ em có cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích;
-
Trẻ em có cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
-
Trẻ em có cả cha và mẹ đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
-
Trẻ em có cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
-
Trẻ em có cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
-
Trẻ em có cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định trường hợp trẻ em thuộc các nhóm trên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng nhưng đủ 16 tuổi thì vẫn tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội nếu đang theo học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục đại học văn bằng thứ nhất.
Điều kiện để tiếp tục hưởng là quá trình học tập liên tục, không bị gián đoạn, trừ trường hợp được tạm dừng học hoặc bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục. Việc hưởng trợ giúp xã hội được kéo dài đến khi kết thúc chương trình học

2. Trẻ em bị bỏ rơi được trợ cấp xã hội hằng tháng bao nhiêu từ 05/10/2026?
Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng. Đây là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội hằng tháng và các mức trợ giúp xã hội khác.
Theo điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, đối với nhóm đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 (trong đó có trẻ em dưới 16 tuổi bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi), mức trợ cấp xã hội hằng tháng được tính như sau:
- Trẻ em bị bỏ rơi dưới 04 tuổi: hưởng mức trợ cấp bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội nhân hệ số 2,5.
540.000 đồng/tháng × 2,5 = 1.350.000 đồng/tháng.
- Trẻ em bị bỏ rơi từ đủ 04 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi: hưởng mức trợ cấp bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội nhân hệ số 1,5.
540.000 đồng/tháng × 1,5 = 810.000 đồng/tháng.
Như vậy, từ ngày 05/10/2026, trẻ em bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng từ 810.000 đồng đến 1.350.000 đồng/tháng tùy theo độ tuổi.
3. Thủ tục đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho trẻ em bị bỏ rơi từ 05/10/2026
Theo Điều 7 và Điều 8 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, trẻ em bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi hoặc người giám hộ của trẻ có thể thực hiện thủ tục đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định.
3.1. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho trẻ em bị bỏ rơi
Theo Điều 7 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng gồm:
-
Tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội theo Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP.
Hồ sơ được gửi theo một trong các phương thức sau:
-
Gửi trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia;
-
Gửi qua dịch vụ bưu chính;
-
Nộp trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa.
3.2. Thời hạn giải quyết và thời điểm hưởng trợ cấp xã hội
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em cư trú có trách nhiệm:
-
Xác thực thông tin của trẻ em với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung;
-
Thẩm định hồ sơ;
-
Quyết định việc hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Thời gian hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng được tính từ tháng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký quyết định.
Trường hợp trẻ em không đủ điều kiện hưởng trợ cấp xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3.3. Trường hợp thay đổi hoặc chấm dứt hưởng trợ cấp xã hội
Trường hợp trẻ em đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng thay đổi nơi cư trú và đề nghị tiếp tục nhận chế độ tại nơi cư trú mới, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cũ quyết định thôi chi trả tại địa bàn và gửi hồ sơ của trẻ đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú mới.
Căn cứ hồ sơ được chuyển đến, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú mới quyết định tiếp tục thực hiện trợ cấp xã hội hằng tháng theo mức tương ứng áp dụng tại địa bàn.
Ngoài ra, trường hợp trẻ em đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng chết, không còn đủ điều kiện hưởng hoặc thay đổi điều kiện hưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định thôi hưởng hoặc điều chỉnh mức hưởng theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định 335/2026/NĐ-CP.
Thời điểm thôi hưởng được tính từ tháng ngay sau tháng trẻ em chết hoặc không còn đủ điều kiện hưởng; trường hợp điều chỉnh mức hưởng thì áp dụng từ tháng thay đổi điều kiện hưởng.
RSS