Buộc thôi học là một trong những hình thức kỷ luật nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với sinh viên khi không đáp ứng yêu cầu học tập hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng. Vậy sinh viên bị buộc thôi học trong những trường hợp nào theo quy định mới.
1. Sinh viên bị buộc thôi học trong trường hợp nào?
Theo Thông tư 56 2026 TT-BGDĐT, hình thức kỷ luật buộc thôi học được áp dụng đối với sinh viên khi xảy ra vi phạm nghiêm trọng, không đáp ứng yêu cầu về học tập. Dựa vào kết quả học tập theo tín chỉ hoặc kết quả học tập theo niên chế mà quy định các trường hợp bị buộc thôi học, cụ thể:
Đối với học tập theo tín chỉ, căn cứ vào khoản 2 Điều 14 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 56/2026/TT-BGDĐT, sinh viên bị buộc thôi học trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, số lần cảnh cáo học tập hoặc mức cảnh báo học tập vượt quá giới hạn theo quy định của cơ sở đào tạo.
Thứ hai, thời gian học tập vượt quá thời gian đào tạo tối đa theo quy định. Theo quy định thời gian đào tạo tối thiểu để hoàn thành chương trình đào tạo không ít hơn hai phần ba (2/3) thời gian đào tạo chuẩn của chương trình đào tạo, và thời gian đào tạo tối đa không vượt quá 2,0 lần thời gian đào tạo chuẩn của chương trình đào tạo.
Đối với học tập theo niên chế, sinh viên bị buộc thôi học khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 15 Quy chế ban hành kèm Thông tư này, gồm:
- Điểm trung bình chung tích lũy các năm học không đạt quy định. Theo đó, điểm trung bình năm học phải đạt từ 3,50 trở lên (theo thang điểm 10) đối với năm học thứ nhất, từ 4,00 trở lên đối với năm thứ hai và từ 4,50 đối với năm thứ ba trở đi;
- Điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 3,80 sau 2 năm học, dưới 4,00 sau 3 năm học và dưới 4,20 từ sau 4 năm học trở đi;
- Theo quy định thời gian đào tạo tối thiểu để hoàn thành chương trình đào tạo không ít hơn hai phần ba (2/3) thời gian đào tạo chuẩn của chương trình đào tạo, và thời gian đào tạo tối đa không vượt quá 2,0 lần thời gian đào tạo chuẩn của chương trình đào tạo. Nếu thời gian học tập vượt quá thời gian đào tạo tối đa thì sinh viên bị buộc thôi học.

2. Sinh viên học tập theo tín chỉ được cảnh cáo học tập dựa trên tiêu chí nào?
Theo khoản 1 Điều 14 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 56 2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, vào cuối năm học, sinh viên được cảnh cáo học tập dựa trên một số điều kiện như sau:
(1) Tổng số tín chỉ không đạt trong học kỳ vượt quá 50% khối lượng đã đăng ký học trong học kỳ, hoặc tổng số tín chỉ nợ đọng từ đầu khóa học vượt quá 24;
(2) Sinh viên có điểm trung bình học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học, dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo;
(3) Điểm trung bình tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên trình độ năm thứ nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên trình độ năm thứ hai; dưới 1,60 đối với sinh viên trình độ năm thứ ba; dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo.
Bên cạnh đó, đối với sinh viên học tập theo niên chế, vào cuối năm học sinh viên được đánh giá đạt tiến độ học tập và được học tiếp lên năm học sau khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau:
- Điểm trung bình năm học đạt từ 3,50 trở lên (theo thang điểm 10) đối với năm học thứ nhất, từ 4,00 trở lên đối với năm thứ hai và từ 4,50 đối với năm thứ ba trở đi;
- Số tín chỉ nợ đọng từ đầu khóa không vượt quá 20% khối lượng học tập chuẩn của chương trình đào tạo.
3. Sinh viên bị xử lý vi phạm khi nào?
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi, vi phạm của sinh viên và các quy định hiện hành, cơ sở đào tạo quy định chi tiết quy trình thực hiện, hình thức kỷ luật tại quy chế của cơ sở đào tạo đối với các hành vi, vi phạm chính sau và các hành vi khác (nếu có), cụ thể đối với:
- Nhóm hành vi gian lận trong quá trình thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, liêm chính học thuật, liêm chính khoa học.
- Nhóm hành vi gian lận ở mức độ nghiêm trọng (có tổ chức hoặc dùng công nghệ): hồ sơ học tập, nhờ người khác thi hộ hoặc đi thi hộ cho người khác, sử dụng trái phép trí tuệ nhân tạo (AI), công cụ số, phương tiện công nghệ để gian lận, mua hoặc bán bài tập, đồ án, khóa luận tốt nghiệp, can thiệp trái phép vào LMS hoặc hệ thống điểm.
- Nhóm hành vi sử dụng hồ sơ và văn bằng giả, chứng chỉ giả (ngoại ngữ, tin học, bằng tốt nghiệp THPT...) để làm điều kiện trúng tuyển (đầu vào); làm điều kiện xét tốt nghiệp (đầu ra); với nhóm hành vi này cơ sở đào tạo thực hiện đối soát dữ liệu văn bằng, chứng chỉ đầu vào của sinh viên với Cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục đại học ngay khi nhập học.
Thông tư 56/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 07/7/2026.
RSS