1. Bổ sung điều kiện xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn
Một nội dung đáng chú ý là dự thảo sửa đổi, bổ sung điều kiện xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn. Theo đó, theo điểm b khoản 1 Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg được sửa đổi bổ sung bởi điểm a khoản 2 Điều 1 dự thảo Quyết định sửa đổi Quyết định 09/2024/QĐ-TTg về điều kiện cấp tín dụng tối đa quy định:
- Khách hàng có nhu cầu vốn để thực hiện các dự án, phương án sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước thuộc một trong các trường hợp sau:
-
Triển khai các dự án, phương án có có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng, cấp thiết nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân thuộc các ngành, lĩnh vực: điện, than, dầu khí, xăng dầu, giao thông, vận tải công cộng và các lĩnh vực khác theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong từng thời kỳ.
-
Triển khai các chương trình, dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư.
-
Đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
-
Đầu tư các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô: Dự án đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công, dự án PPP theo quy định của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư cần triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ, Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội
Và đã được Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định chủ trương đầu tư, Chủ tịch UBND Thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư.
Trước đây, theo điểm b khoản 1 Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg quy định:
- Khách hàng có nhu cầu vốn để thực hiện các dự án, phương án sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước thuộc một trong các trường hợp sau:
-
Triển khai các dự án, phương án có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng, cấp thiết nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân thuộc các ngành, lĩnh vực: điện, than, dầu khí, xăng dầu, giao thông, vận tải công cộng và các lĩnh vực khác theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong từng thời kỳ;
-
Triển khai các chương trình, dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư;
-
Đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
Như vậy, ngoài các trường hợp phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, dự thảo bổ sung nhóm dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô.
Theo đó, khách hàng có nhu cầu vốn được xem xét khi thực hiện các chương trình, dự án đã được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư; đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích; hoặc đầu tư các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô theo quy định tại Nghị quyết số 258/2025/QH15 và đã được Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định chủ trương đầu tư, Chủ tịch UBND Thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư.

2. Bổ sung quy định về mức cấp tín dụng tối đa trong trường hợp vượt giới hạn.
Theo điểm e khoản 2 Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg được sửa đổi bổ sung bởi điểm d khoản 2 Điều 1 dự thảo Quyết định sửa đổi Quyết định 09/2024/QĐ-TTg về điều kiện cấp tín dụng tối đa như sau:
- Mức cấp tín dụng tối đa đề nghị đối với một khách hàng không vượt quá 38%, một khách hàng và người có liên quan của khách hàng đó không vượt quá 52% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để cho vay các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 258/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội và đã được Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định chủ trương đầu tư, Chủ tịch UBND Thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư.
Như vậy, dự thảo đã quy định rõ mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn. Theo đó, dự thảo đề xuất hạn mức cho một khách hàng vay tối đa là 38% vốn tự có của ngân hàng. Đối với nhóm khách hàng và người có liên quan, mức trần là 52%.
Theo đó, trường hợp khách hàng có nhu cầu vốn lớn để thực hiện các dự án quan trọng và cấp thiết, họ có thể đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn.
Đề xuất này cao hơn nhiều so với quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng 2024 về giới hạn cấp tín dụng. Theo quy định, dư nợ tín dụng cho một khách hàng và nhóm liên quan bị khống chế theo tỉ lệ vốn tự có của ngân hàng. Hiện nay, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã quy định theo hướng giảm giới hạn tín dụng cho một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan, theo đó đang giới hạn lần lượt ở mức 13% và 21% và sẽ giảm xuống 12% và 19% trong thời gian tới (Theo Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng 2024, số 32/2024/QH15).
3. Đề xuất rút ngắn thời gian đăng tải thư mời hợp vốn
Trước đây, theo điểm a khoản 2 Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg quy định về cấp tín dụng hợp vốn như sau:
- Đã đề xuất và thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật về việc cấp tín dụng hợp vốn đối với các dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn mà khả năng hợp vốn của các tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của một khách hàng; hoặc
- Đã phát hành thư mời hợp vốn tới ít nhất 05 tổ chức tín dụng khác;
Đăng tải thư mời hợp vốn trên cổng thông tin điện tử chính thức của tổ chức tín dụng và cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc Tạp chí Ngân hàng hoặc Thời báo Ngân hàng trong thời gian ít nhất 45 ngày nhưng không có tổ chức tín dụng khác tham gia hợp vốn.
Theo điểm a khoản 2 Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg được sửa đổi bổ sung bởi điểm b khoản 2 Điều 1 dự thảo Quyết định sửa đổi Quyết định 09/2024/QĐ-TTg về điều kiện cấp tín dụng tối đa quy định về cấp tín dụng hợp vốn như sau:
- Đã đề xuất và thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật về việc cấp tín dụng hợp vốn đối với các dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn mà khả năng hợp vốn của các tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của một khách hàng; hoặc
- Đã phát hành thư mời hợp vốn tới ít nhất 05 tổ chức tín dụng khác;
Đăng tải thư mời hợp vốn trên cổng thông tin điện tử chính thức của tổ chức tín dụng và cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc Thời báo Ngân hàng (trừ trường hợp cấp tín dụng đối với các dự án, phương án có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng nhằm mục tiêu an ninh, quốc phòng và bị hạn chế chia sẻ thông tin theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền) trong thời gian ít nhất 30 ngày nhưng không có tổ chức tín dụng khác tham gia hợp vốn.
Như vậy, dự thảo đã đề xuất rút ngắn thời gian đăng tải thư mời hợp vốn giảm từ 45 ngày xuống còn 30 ngày.
4. Tinh gọn quy trình xử lý hồ sơ cấp tín dụng vượt giới hạn
Trước đây, theo Điều 6 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg quy định thủ tục xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn như sau:
- Tổ chức tín dụng gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 01 bộ hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg trực tiếp tại Bộ phận một cửa hoặc qua dịch vụ bưu chính.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ của tổ chức tín dụng:
-
Trường hợp hồ sơ của tổ chức tín dụng không đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức tín dụng trong đó ghi rõ các điều kiện mà tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được;
-
Trường hợp hồ sơ của tổ chức tín dụng đã hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương có liên quan về các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật - pháp lý của dự án, phương án và khách hàng đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản xin ý kiến từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các bộ, ngành, địa phương có ý kiến bằng văn bản về các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý của đơn vị mình gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Trên cơ sở ý kiến tham gia của các bộ, ngành, địa phương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam yêu cầu tổ chức tín dụng, khách hàng giải trình về các vấn đề có liên quan (nếu có).
- Trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến của các bộ, ngành, địa phương hoặc ý kiến giải trình của tổ chức tín dụng, khách hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn do tổ chức tín dụng cung cấp:
-
Trường hợp hồ sơ của tổ chức tín dụng không đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 3 Quyết định này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức tín dụng trong đó ghi rõ các điều kiện mà tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được;
-
Trường hợp hồ sơ của tổ chức tín dụng đã hợp lý, hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn của tổ chức tín dụng.
- Căn cứ đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn của tổ chức tín dụng, ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các bộ, ngành, địa phương, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc cấp tín dụng vượt giới hạn của tổ chức tín dụng.
Theo khoản 1 Điều 6 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg được sửa đổi bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 dự thảo Quyết định sửa đổi Quyết định 09/2024/QĐ-TTg quy định:
Thủ tục xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn đối với khoản cấp tín dụng do Thủ tướng Chính phủ quyết định mức cấp tín dụng tối đa theo quy định tại khoản 7 Điều 136 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024:
- Tổ chức tín dụng gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 01 bộ hồ sơ theo quy định tại khoản 1, Điều 4 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg bằng một trong các phương thức sau:
-
Trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia;
-
Trực tiếp tại Bộ phận một cửa;
-
Qua dịch vụ bưu chính.
Trường hợp hệ thống Cổng dịch vụ công quốc gia gặp sự cố hoặc có lỗi không thể tiếp nhận, trao đổi thông tin điện tử, việc khai, gửi, tiếp nhận, trả kết quả, trao đổi, phản hồi thông tin được thực hiện qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại Bộ phận Một cửa của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ của tổ chức tín dụng:
-
Trường hợp hồ sơ của tổ chức tín dụng không đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức tín dụng trong đó ghi rõ các điều kiện mà tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được.
-
Trường hợp hồ sơ của tổ chức tín dụng đã hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương có liên quan về các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật - pháp lý của dự án, phương án và khách hàng đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xin ý kiến từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các bộ, ngành, địa phương có ý kiến bằng văn bản về các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý của đơn vị mình gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Trên cơ sở ý kiến tham gia của các bộ, ngành, địa phương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam yêu cầu tổ chức tín dụng, khách hàng giải trình về các vấn đề có liên quan (nếu có).
- Trong thời hạn 17 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của các bộ, ngành, địa phương hoặc ý kiến giải trình của tổ chức tín dụng, khách hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn do tổ chức tín dụng cung cấp:
-
Trường hợp hồ sơ của tổ chức tín dụng không đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 3 Quyết định này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức tín dụng trong đó ghi rõ các điều kiện mà tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được.
-
Trường hợp hồ sơ của tổ chức tín dụng đã hợp lý, hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn của tổ chức tín dụng.
- Căn cứ đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn của tổ chức tín dụng, ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các bộ, ngành, địa phương, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc cấp tín dụng vượt giới hạn của tổ chức tín dụng.
Như vậy, dự thảo đã tinh gọn quy trình xử lý hồ sơ, với tổng thời gian xem xét giảm xuống còn khoảng 27 ngày làm việc. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ lấy ý kiến các bộ, ngành trong vòng 5 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; các đơn vị liên quan có 5 ngày phản hồi, sau đó cơ quan quản lý có tối đa 17 ngày để hoàn tất thẩm định trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định.
RSS