Dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng: 6 nội dung đáng chú ý

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN, trong đó đề xuất nhiều điều chỉnh liên quan đến hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng. Bài viết dưới đây tổng hợp 6 nội dung đáng chú ý của Dự thảo.

1. Các khoản cho vay giá trị nhỏ tại các ngân hàng dự kiến tăng gấp 4 lần 

Trước đây, theo khoản 13 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Thông tư 12/2024/TT-NHNN quy định:

- Khoản cho vay có mức giá trị nhỏ là khoản cho vay theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Các tổ chức tín dụng và không vượt quá 100.000.000 (một trăm triệu) đồng Việt Nam.

Theo khoản 13 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi Điều 2 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định: 

- Khoản cho vay có mức giá trị nhỏ là khoản cho vay theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Các tổ chức tín dụng và không vượt quá 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng Việt Nam tại các tổ chức tín dụng (trừ Quỹ tín dụng nhân dân) và không vượt quá 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng Việt Nam tại các Quỹ tín dụng nhân dân.

Như vậy, dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN đã đề xuất nâng hạn mức khoản vay có giá trị nhỏ so với quy định hiện hành. Cụ thể:

- Đối với tổ chức tín dụng (trừ Quỹ tín dụng nhân dân), mức cho vay giá trị nhỏ được tăng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng, tức tăng gấp 4 lần so với trước đây.

- Đối với Quỹ tín dụng nhân dân, mức cho vay giá trị nhỏ được xác định tối đa 200 triệu đồng.

Dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng: 6 nội dung đáng chú ý
Dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng: 6 nội dung đáng chú ý (Ảnh minh hoạ)

2. Làm rõ tiêu chí xác định khoản vay nước ngoài chưa thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Trước đây, theo khoản 6 Điều 8 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định:

Trường hợp cho vay để trả nợ trước hạn khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

- Thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn cho vay còn lại của khoản vay cũ;

- Là khoản vay chưa thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Theo điểm b khoản 6 Điều 8 Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi Điều 3 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN:

- Là khoản vay chưa được kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay của kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận (bao gồm cả trường hợp không thay đổi về số kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận), thời hạn cho vay không thay đổi; khoản vay chưa được kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay, vượt quá thời hạn cho vay đã thỏa thuận.

3. Không còn quy định thứ tự thu nợ gốc, lãi đối với khoản nợ vay có một hoặc một số kỳ hạn trả nợ bị quá hạn

Trước đây, theo khoản 4 Điều 18 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định thứ tự trả nợ gốc và lãi tiền vay như sau:

- Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về thứ tự thu nợ gốc, lãi tiền vay. 

- Đối với khoản nợ vay bị quá hạn trả nợ, tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự nợ gốc thu trước, nợ lãi tiền vay thu sau. 

- Đối với khoản nợ vay có một hoặc một số kỳ hạn trả nợ bị quá hạn, tổ chức tín dụng thực hiện thu nợ theo thứ tự thu nợ gốc đã quá hạn, thu nợ lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả, thu nợ gốc đến hạn, thu nợ lãi trên nợ gốc mà đến hạn chưa trả.

Theo khoản 4 Điều 18 Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi Điều 4 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định: 

- Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về thứ tự thu nợ gốc, lãi tiền vay. Đối với khoản nợ vay bị quá hạn trả nợ, tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự nợ gốc thu trước, nợ lãi tiền vay thu sau.

Như vậy, quy định mới cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng tự thỏa thuận thứ tự thu nợ gốc và lãi tiền vay.

4. Bổ sung yêu cầu tổ chức tín dụng quy định cụ thể mức giới hạn dư nợ cho vay đối với một khách hàng bằng phương tiện điện tử

Theo điểm h Điều 22 Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi Điều 5 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định:

- Trường hợp cho vay bằng phương tiện điện tử, TCTD quy định cụ thể giới hạn dư nợ cho vay đối với một khách hàng, phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy, nếu dự thảo Thông tư được thông qua, tổ chức tín dụng cần phải quy định cụ thể mức giới hạn dư nợ cho vay bằng phương thức điện tử trong quy định nội bộ.

Dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng: 6 nội dung đáng chú ý
Dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng: 6 nội dung đáng chú ý (Ảnh minh hoạ)

5. Không liệt kê cụ thể thông tin định danh/thông tin nhận biết của khách hàng trong thỏa thuận cho vay

Trước đây, theo Điều 23 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định nội dung tối thiểu của thoả thuận cho vay trong đó có:

- Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của tổ chức tín dụng cho vay; tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp của khách hàng;

Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi Điều 6 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định:

- Thông tin về tổ chức tín dụng cho vay và khách hàng vay;

Như vậy, quy định mới không còn liệt kê cụ thể thông tin định danh/thông tin nhận biết của khách hàng trong thỏa thuận cho vay mà cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng tự thỏa thuận nội dung này.

6. Cho phép các tổ chức tín dụng tự quy định mức giới hạn dư nợ cho vay điện tử trong quy định nội bộ

Một nội dung đáng chú ý khác trong dự thảo là đề xuất bãi bỏ quy định về giới hạn dư nợ cho vay bằng phương tiện điện tử không quá 100 triệu đồng. 

Trước đây, theo Điều 32c Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi khoản 11 Điều 1 Thông tư 06/2023/TT-NHNN quy định về dư nợ cho vay như sau:

- Dư nợ cho vay đối với một khách hàng là cá nhân vay vốn phục vụ nhu cầu đời sống và được nhận biết, xác minh thông tin nhận biết khách hàng theo quy định tại Điều 32b Thông tư này không vượt quá 100.000.000 (một trăm triệu) đồng Việt Nam tại một tổ chức tín dụng.

Theo đó, NHNN dự kiến bãi bỏ Điều 32c của thông tư 39/2016/TT-NHNN (Theo Điều 8 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN), thay vào đó cho phép các tổ chức tín dụng tự quy định mức giới hạn dư nợ cho vay điện tử trong quy định nội bộ, dựa trên khẩu vị rủi ro, năng lực công nghệ và khả năng quản trị của từng đơn vị (Theo điểm h khoản 2 Điều 22 Thông tư 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bới Điều 5 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN)

Theo NHNN, nhiều tổ chức tín dụng đã kiến nghị nâng mức giới hạn hoặc không quy định hạn mức cụ thể đối với cho vay trực tuyến. Trong bối cảnh chi phí sinh hoạt và nhu cầu tiêu dùng gia tăng, nhu cầu vay vốn của khách hàng thường vượt mức 100 triệu đồng. Do đó, việc duy trì giới hạn này được cho là chưa còn phù hợp với thực tiễn.

Trên đây là thông tin về việc Dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng: 6 nội dung đáng chú ý…

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm [Đề xuất]

Mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm [Đề xuất]

Mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm [Đề xuất]

Dự thảo Nghị định quy định xử phạt VPHC lĩnh vực giáo dục đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến lần đầu đề xuất toàn diện về chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong quản lý và tổ chức dạy thêm, học thêm.

Điểm mới dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Điểm mới dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Điểm mới dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp có những điểm mới đáng chú ý nào? Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thông tin chi tiết.

Mức hỗ trợ khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi mới nhất

Mức hỗ trợ khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi mới nhất

Mức hỗ trợ khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi mới nhất

Chi phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi là vấn đề được nhiều hộ gia đình, cá nhân và tổ chức quan tâm, nhất là trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Vậy quy định mới nhất đang đặt ra cơ chế hỗ trợ như thế nào?

Thủ tục chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế mới nhất

Thủ tục chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế mới nhất

Thủ tục chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế mới nhất

Chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế là kênh huy động vốn quan trọng nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ chặt chẽ về hồ sơ, công bố thông tin và báo cáo kết quả phát hành. Tùy từng loại hình doanh nghiệp, trình tự thực hiện sẽ có những điểm khác nhau cần lưu ý.

Bảng so sánh Thông tư 24/2026/TT-BNNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì

Bảng so sánh Thông tư 24/2026/TT-BNNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì

Bảng so sánh Thông tư 24/2026/TT-BNNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì

Bảng so sánh Thông tư 24/2026/TT-BNNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT do LuatVietnam thực hiện giúp đối chiếu nhanh, rõ ràng các quy định mới và cũ về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Bảng so sánh Thông tư 32/2026/TT-BXD và Thông tư 10/2021/TT-BXD về quản lý chất lượng, thi công xây dựng

Bảng so sánh Thông tư 32/2026/TT-BXD và Thông tư 10/2021/TT-BXD về quản lý chất lượng, thi công xây dựng

Bảng so sánh Thông tư 32/2026/TT-BXD và Thông tư 10/2021/TT-BXD về quản lý chất lượng, thi công xây dựng

Bảng so sánh Thông tư 32/2026/TT-BXD và Thông tư 10/2021/TT-BXD về quản lý chất lượng, thi công xây dựng  giúp người đọc dễ dàng nhận diện nội dung thay đổi, tiết kiệm thời gian nghiên cứu và hạn chế bỏ sót các quy định quan trọng khi áp dụng.