Điểm mới Nghị định 216/2026/NĐ-CP về lý lịch tư pháp

Nghị định 216/2026/NĐ-CP đã có nhiều điều chỉnh đáng chú ý trong quản lý cơ sở dữ liệu và thực hiện thủ tục về lý lịch tư pháp. Dưới đây là thông tin chi tiết.

1. Chuyển trách nhiệm quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp sang Bộ Công an

Trước đây, theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 111/2010/NĐ-CP, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước và chỉ đạo hướng dẫn việc xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại các địa phương.

Đồng thời, Điều 4 Nghị định 111/2010/NĐ-CP quy định Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước.

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

- Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý, vận hành, bảo vệ và lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật.

- Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị trực thuộc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp và Nghị định này.

Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị trực thuộc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, trách nhiệm chủ trì quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được chuyển từ Bộ Tư pháp sang Bộ Công an. Đây là thay đổi căn bản về cơ quan quản lý nhà nước và mô hình tổ chức cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

diem-moi-nghi-dinh-216-2026-nd-cp-ve-ly-lich-tu-phap

2. Xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tập trung

Trước đây, theo Điều 4, Điều 8 và Điều 19 Nghị định 111/2010/NĐ-CP, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng, quản lý tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp, bao gồm:

  • Hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy;

  • Dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử được chuyển đổi từ hồ sơ giấy.

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Nghị định 216/2026/NĐ-CP, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng tập trung, theo nguyên tắc mở, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả.

Đồng thời, dữ liệu lý lịch tư pháp đã có trong các cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ thì không thu thập lại; mọi bản ghi dữ liệu phải được lưu vết truy cập, chỉnh sửa và cập nhật.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được chuyển sang mô hình quản lý tập trung, liên thông và không thu thập lại dữ liệu đã có. Đây là thay đổi nhằm hạn chế trùng lặp dữ liệu, tăng khả năng truy xuất lịch sử và bảo đảm quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

3. Dùng số định danh cá nhân làm thông tin gốc để kết nối dữ liệu

Trước đây, theo Điều 5 và Điều 16 Nghị định 111/2010/NĐ-CP, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về dân cư, hộ tịch, hộ khẩu, chứng minh nhân dân có trách nhiệm cung cấp thông tin để xác định nhân thân của người được lập lý lịch tư pháp.

Tuy nhiên, Nghị định 111/2010/NĐ-CP chưa quy định cụ thể một thông tin định danh thống nhất được sử dụng làm khóa kết nối, đối soát và đồng bộ dữ liệu.

Theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

Số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân được sử dụng làm thông tin gốc để kết nối, đối soát và đồng bộ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, số định danh cá nhân được sử dụng làm thông tin gốc trong quản lý và kết nối dữ liệu lý lịch tư pháp; trường hợp không có số định danh cá nhân thì sử dụng số hộ chiếu.

Đây là thay đổi giúp xác định chính xác cá nhân, hạn chế nhầm lẫn giữa những người có họ tên, ngày sinh hoặc thông tin cư trú tương tự nhau.

4. Bắt buộc kết nối, chia sẻ dữ liệu lý lịch tư pháp trong tối đa 1 ngày làm việc

Trước đây, theo Điều 5 và Điều 9 Nghị định 111/2010/NĐ-CP, việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp chủ yếu được thực hiện theo yêu cầu giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp và các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu liên quan.

Ngoài ra, theo Điều 15 Nghị định 111/2010/NĐ-CP, định kỳ hằng quý, Sở Tư pháp phối hợp với Tòa án rà soát, đối chiếu bản án hình sự và quyết định tuyên bố phá sản để tránh bỏ sót hoặc chậm cung cấp thông tin.

Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là hoạt động bắt buộc, được thực hiện thông qua các phương thức sau:

  • Kết nối thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia (NDOP) và các điểm kết nối bảo mật theo quy định;

  • Khai thác, truy vấn dữ liệu thông qua giao diện lập trình ứng dụng (API) theo tiêu chuẩn, quy trình do cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp Bộ Công an và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các bộ, ngành thống nhất ban hành;

  • Đồng bộ dữ liệu tự động giữa hệ thống thông tin của Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, các ngành có liên quan với cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Đồng thời, khoản 1 Điều 7 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

Việc chia sẻ đồng bộ dữ liệu được thực hiện trong thời gian không quá 01 ngày làm việc kể từ khi thông tin được cập nhật vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu lý lịch tư pháp trở thành hoạt động bắt buộc và phải được thực hiện trong tối đa 01 ngày làm việc.

Đây là thay đổi từ cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin theo yêu cầu hoặc rà soát định kỳ sang cơ chế kết nối, đồng bộ dữ liệu điện tử thường xuyên.

5. Không được yêu cầu cung cấp lại thông tin lý lịch tư pháp đã có

Trước đây, Nghị định 111/2010/NĐ-CP quy định Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp có thể gửi văn bản yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin cần thiết để lập, cập nhật lý lịch tư pháp.

Nghị định 111/2010/NĐ-CP chưa đặt ra nguyên tắc chung về việc không được yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu được kết nối.

Theo khoản 4 Điều 6 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

Cơ quan, tổ chức không được yêu cầu cung cấp lại thông tin lý lịch tư pháp khi thông tin đó đã có trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và đã được kết nối, chia sẻ.

Trường hợp cần xác minh, thẩm tra tính chính xác của thông tin hoặc khi thông tin khai thác được chưa đầy đủ, chưa chính xác, cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, cơ quan, tổ chức không được yêu cầu cung cấp lại thông tin lý lịch tư pháp đã có và đã được kết nối, chia sẻ. Đây là thay đổi góp phần giảm giấy tờ, hạn chế việc cá nhân và cơ quan phải cung cấp lặp lại cùng một thông tin.

Không được yêu cầu cung cấp lại thông tin lý lịch tư pháp đã có
Không được yêu cầu cung cấp lại thông tin lý lịch tư pháp đã có (Ảnh minh họa)

6. Công an tỉnh lập lý lịch tư pháp đối với người bị cấm quản lý doanh nghiệp

Trước đây, theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 111/2010/NĐ-CP:

Sở Tư pháp, nơi người bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã thường trú, lập Lý lịch tư pháp của người đó; trường hợp người đó không có nơi thường trú thì Sở Tư pháp, nơi người đó tạm trú, lập Lý lịch tư pháp.

Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

Công an tỉnh, thành phố có trách nhiệm lập Lý lịch tư pháp đối với người bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật Lý lịch tư pháp.

Bên cạnh đó, Điều 14 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định cơ quan thi hành án dân sự cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, trong đó có nội dung cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã cho Cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, thẩm quyền lập lý lịch tư pháp đối với người bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được chuyển từ Sở Tư pháp sang Công an tỉnh, thành phố. Đây là thay đổi phù hợp với việc chuyển trách nhiệm quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp sang Bộ Công an.

7. Cá nhân được đề nghị điều chỉnh thông tin lý lịch tư pháp bị sai

Trước đây, theo khoản 2 Điều 21 Nghị định 111/2010/NĐ-CP, trong trường hợp có sự sai lệch về nội dung giữa dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử và hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy thì Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp phải tiến hành kiểm tra, xác minh để điều chỉnh cho phù hợp.

Quy định cũ chủ yếu xử lý sai lệch phát sinh trong quá trình quản lý dữ liệu và chưa ghi nhận rõ việc cá nhân trực tiếp đề nghị điều chỉnh thông tin lý lịch tư pháp.

Theo khoản 1 Điều 18 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định, thông tin lý lịch tư pháp được điều chỉnh khi có sai sót trong quá trình:

  • Thu thập, cập nhật, quản lý thông tin;

  • Kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu;

  • Theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin;

  • Theo đề nghị của cá nhân.

Cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải kiểm tra, xác minh, kịp thời điều chỉnh và thông báo kết quả cho cá nhân đã đề nghị.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, cá nhân được quyền đề nghị điều chỉnh thông tin của mình trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp khi phát hiện có sai sót.

Đây là thay đổi trực tiếp bảo đảm quyền của cá nhân đối với tính chính xác của dữ liệu lý lịch tư pháp.

8. Được yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo 3 hình thức

Trước đây, Nghị định 111/2010/NĐ-CP không có điều khoản riêng quy định đầy đủ thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo từng hình thức nộp hồ sơ.

Nội dung Nghị định cũ chủ yếu tập trung vào xây dựng, lưu trữ, bảo vệ cơ sở dữ liệu và tra cứu thông tin lý lịch tư pháp có trước ngày 01/7/2010.

Theo khoản 1 Điều 22 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định cá nhân được yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo 03 hình thức:

  • Trực tuyến trên ứng dụng định danh quốc gia hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia;

  • Qua dịch vụ bưu chính;

  • Trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định thống nhất 03 hình thức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, gồm trực tuyến, qua bưu chính và trực tiếp. Đây là thay đổi giúp cụ thể hóa quy trình cấp Phiếu lý lịch tư pháp và tạo thêm lựa chọn cho người dân.

Được yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo 3 hình thức
Được yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo 3 hình thức (Ảnh minh họa)

9. Được nộp hồ sơ cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại cơ quan nơi gần nhất

Trước đây, Nghị định 111/2010/NĐ-CP không quy định việc cá nhân được lựa chọn nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp nơi gần nhất.

Theo khoản 5 Điều 22 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

Cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tiếp được nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp nơi cư trú hoặc nơi gần nhất.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, người dân không chỉ được nộp hồ sơ tại cơ quan nơi cư trú mà còn có thể nộp tại cơ quan có thẩm quyền nơi gần nhất. Đây là thay đổi tạo thuận lợi cho người dân, giảm sự phụ thuộc vào địa giới hành chính khi thực hiện thủ tục trực tiếp.

10. Quy định cụ thể thời hạn tiếp nhận hồ sơ cấp Phiếu lý lịch tư pháp

Trước đây, Nghị định 111/2010/NĐ-CP không quy định thời hạn riêng để thông báo tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hoặc từ chối hồ sơ theo từng hình thức nộp hồ sơ.

Theo Điều 23 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

  • Đối với hồ sơ trực tuyến, trong vòng 08 giờ làm việc, phần mềm giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Công an phải thông báo hồ sơ được tiếp nhận hoặc không được tiếp nhận;

  • Đối với hồ sơ nộp trực tiếp, Phiếu yêu cầu bổ sung, Phiếu từ chối hoặc Giấy tiếp nhận và hẹn trả kết quả phải được ban hành trong vòng 01 giờ;

  • Đối với hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, thời hạn thực hiện là trong vòng 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ.

Ngoài ra, cơ quan tiếp nhận không được yêu cầu nộp thêm giấy tờ chứng minh những thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, thời hạn xử lý bước tiếp nhận hồ sơ cấp Phiếu lý lịch tư pháp được quy định cụ thể theo từng phương thức nộp hồ sơ.

Đây là thay đổi giúp công khai thời gian xử lý, hạn chế chậm trễ và yêu cầu bổ sung giấy tờ không cần thiết.

11. Trả Phiếu lý lịch tư pháp điện tử qua VNeID và Cổng Dịch vụ công quốc gia

Trước đây, Nghị định 111/2010/NĐ-CP không quy định việc trả Phiếu lý lịch tư pháp điện tử trên ứng dụng định danh quốc gia hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

Cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp trả Phiếu lý lịch tư pháp bản điện tử tại cổng dịch vụ công quốc gia và ứng dụng định danh quốc gia cho cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tuyến.

Đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính, cá nhân được nhận Phiếu bản giấy trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính theo hình thức đã đăng ký.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, Phiếu lý lịch tư pháp điện tử được trả trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng định danh quốc gia.

Đây là thay đổi quan trọng trong thực hiện thủ tục lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử, tạo thuận lợi cho việc nhận và sử dụng kết quả.

12. Bổ sung yêu cầu sao lưu dữ liệu lý lịch tư pháp hằng ngày, hằng tuần

Trước đây, theo Điều 23 Nghị định 111/2010/NĐ-CP, các biện pháp bảo vệ dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử gồm:

  • Bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu;

  • Bảo đảm an ninh mạng.

Nghị định cũ chưa quy định cụ thể tần suất và số lượng bản sao lưu dữ liệu lý lịch tư pháp.

Theo điểm e khoản 2 Điều 19 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định:

Dữ liệu lý lịch tư pháp phải được sao lưu định kỳ tối thiểu thành 02 bản, trong đó dữ liệu phát sinh được sao lưu 01 lần/ngày và dữ liệu đầy đủ được sao lưu 01 lần/tuần.

Đồng thời, dữ liệu phải được lưu trữ tại hệ thống chính và hệ thống dự phòng, bảo đảm khả năng phục hồi khi bị phá hủy, tấn công mạng hoặc truy nhập trái phép.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải được sao lưu tối thiểu thành 02 bản, sao lưu dữ liệu phát sinh hằng ngày và sao lưu đầy đủ hằng tuần. Đây là thay đổi cụ thể hóa trách nhiệm bảo vệ, sao lưu và phục hồi dữ liệu lý lịch tư pháp khi xảy ra sự cố.

Bổ sung yêu cầu sao lưu dữ liệu lý lịch tư pháp hằng ngày, hằng tuần
Bổ sung yêu cầu sao lưu dữ liệu lý lịch tư pháp hằng ngày, hằng tuần (Ảnh minh họa)

13. Cho phép cơ quan có thẩm quyền khai thác trực tiếp thông tin lý lịch tư pháp

Trước đây, theo Điều 22 Nghị định 111/2010/NĐ-CP, công chức, viên chức công tác tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp chỉ được quyền tiếp cận cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao..

Theo khoản 1 Điều 26 Nghị định 216/2026/NĐ-CP quy định, thông tin lý lịch tư pháp phục vụ hoạt động tố tụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức và giải quyết thủ tục hành chính được khai thác bằng các phương thức:

  • Khai thác trực tiếp trên cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo phân quyền;

  • Kết nối, chia sẻ dữ liệu;

  • Các phương thức hợp pháp khác.

Cơ quan, tổ chức khai thác dữ liệu phải sử dụng đúng mục đích, không vượt quá phạm vi được phép và không được cung cấp cho bên thứ ba khi chưa được phép.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, cơ quan có thẩm quyền có thể khai thác trực tiếp thông tin trên cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo phân quyền.

Đây là thay đổi giúp giảm việc yêu cầu cấp, nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong những trường hợp cơ quan nhà nước có thể khai thác dữ liệu trực tiếp theo thẩm quyền.

Trên đây là thông tin về việc Điểm mới Nghị định 216/2026/NĐ-CP về lý lịch tư pháp…
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

10 điểm mới Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng sửa đổi, số 05/2026/UBTVQH16

10 điểm mới Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng sửa đổi, số 05/2026/UBTVQH16

10 điểm mới Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng sửa đổi, số 05/2026/UBTVQH16

Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tiếp tục được điều chỉnh nhằm phù hợp hơn với thực tiễn và yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội. Pháp lệnh 05/2026/UBTVQH16 đã sửa đổi, bổ sung những nội dung đáng chú ý nào? Dưới đây là thông tin chi tiết.

Viên chức muốn làm giảng viên đồng cơ hữu phải đáp ứng điều kiện gì?

Viên chức muốn làm giảng viên đồng cơ hữu phải đáp ứng điều kiện gì?

Viên chức muốn làm giảng viên đồng cơ hữu phải đáp ứng điều kiện gì?

Nghị định 159/2026/NĐ-CP ban hành ngày 15/5/2026 quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học công lập. Đáng chú ý là từ ngày 01/7/2026, viên chức muốn làm giảng viên đồng cơ hữu phải đáp ứng các điều kiện, tiêu  chuẩn trình độ, chuyên môn.

Nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu hưởng chế độ như thế nào?

Nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu hưởng chế độ như thế nào?

Nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu hưởng chế độ như thế nào?

Sau khi nghỉ hưu, nhà giáo vẫn có thể tiếp tục làm việc tại cơ sở giáo dục thông qua hợp đồng toàn thời gian nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định. Vậy nhà giáo trong trường hợp này được hưởng tiền lương, phụ cấp và các quyền lợi nào?