- 1. Phổ biến pháp luật qua nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo
- 2. Tài khoản mạng xã hội phổ biến pháp luật phải được định danh, xác thực
- 3. Đơn vị vận hành AI pháp luật phải chịu trách nhiệm về thông tin do hệ thống cung cấp
- 4. Truyền thông chính sách được thực hiện từ giai đoạn đề xuất và soạn thảo văn bản
- 5. Mở rộng quyền của công dân trong tiếp cận và tham gia xây dựng pháp luật
- 6. Bổ sung nhiều nhóm được ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật
- 7. Cơ sở đào tạo phải đưa pháp luật liên quan đến ngành nghề vào chương trình
- 8. Luật sư, luật gia được lựa chọn làm báo cáo viên pháp luật
- 9. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở cấp xã
- 10. Đánh giá phổ biến pháp luật dựa trên mức độ hiểu biết, tuân thủ và sự hài lòng
Sau đây là 10 điểm mới đáng chú ý của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2026.
1. Phổ biến pháp luật qua nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo
Khoản 2 Điều 11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2026 chính thức xác định nền tảng số, mạng xã hội và ứng dụng trí tuệ nhân tạo là các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật.
Đáng chú ý, khoản 1 Điều 13 quy định Cổng Pháp luật quốc gia là nền tảng số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân, người dân và doanh nghiệp tiếp cận pháp luật. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ và quản lý dữ liệu pháp luật thuộc phạm vi quản lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
Các cơ quan nhà nước cũng phải thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhằm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân chủ động tiếp cận pháp luật. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia, hỗ trợ hoạt động này và khai thác dữ liệu trên Cổng Pháp luật quốc gia.
Trong khi đó, khoản 3 Điều 11 và Điều 13 Luật năm 2012 mới đề cập việc phổ biến pháp luật qua internet, trang thông tin điện tử và phương tiện thông tin đại chúng, chưa quy định riêng về nền tảng số, mạng xã hội, AI và Cổng Pháp luật quốc gia.

2. Tài khoản mạng xã hội phổ biến pháp luật phải được định danh, xác thực
Theo khoản 4 Điều 13 Luật năm 2026, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trên mạng xã hội phải sử dụng tài khoản chính thức đã được định danh và xác thực theo quy định của pháp luật.
Đây là quy định hoàn toàn mới so với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2012. Luật cũ chỉ liệt kê internet và trang thông tin điện tử là phương tiện phổ biến pháp luật nhưng chưa điều chỉnh riêng hoạt động truyền tải thông tin pháp luật trên mạng xã hội, cũng chưa yêu cầu xác thực chủ thể cung cấp thông tin.
Yêu cầu định danh tài khoản gắn với nguyên tắc tại Điều 5 Luật năm 2026. Theo đó, việc phổ biến pháp luật phải được thực hiện kịp thời, thường xuyên, liên tục, chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, công khai và minh bạch. Hoạt động này cũng phải tuân thủ pháp luật về an ninh mạng, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước.
Khoản 7 Điều 13 còn quy định việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm trong hoạt động phổ biến pháp luật qua nền tảng số, mạng xã hội và AI được thực hiện theo quy định pháp luật có liên quan.
3. Đơn vị vận hành AI pháp luật phải chịu trách nhiệm về thông tin do hệ thống cung cấp
Theo điểm a khoản 5 Điều 13 Luật năm 2026, việc ứng dụng AI phải được kiểm soát, cập nhật dựa trên nguồn thông tin, dữ liệu chính thức của cơ quan nhà nước và bảo đảm tính chính xác của nội dung pháp luật. Thông tin phải được kiểm chứng trước khi cung cấp; được gắn nhãn cảnh báo và đính chính theo quy định.
Đặc biệt, điểm c khoản 5 Điều 13 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân phát triển, vận hành AI phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu đầu vào và thông tin do hệ thống của mình cung cấp.
Khoản 2 Điều 9 Luật mới đồng thời nghiêm cấm sử dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo hoặc các phương tiện khác để tạo lập, phát tán thông tin, tài liệu giả mạo hoặc làm sai lệch nội dung pháp luật, nội dung chính sách. Chủ thể phổ biến pháp luật bằng AI còn phải bảo đảm an toàn dữ liệu cá nhân theo khoản 6 Điều 13.
Luật năm 2012 chưa có quy định về AI, trách nhiệm đối với dữ liệu đầu vào, nghĩa vụ kiểm chứng hoặc trách nhiệm đối với thông tin do hệ thống tự động cung cấp.
4. Truyền thông chính sách được thực hiện từ giai đoạn đề xuất và soạn thảo văn bản
Luật năm 2026 dành riêng Mục 4 Chương II để quy định về truyền thông chính sách. Theo khoản 1 Điều 21, truyền thông chính sách là hoạt động cung cấp thông tin và tương tác đa chiều về chính sách, dự thảo văn bản trong quá trình đề xuất và soạn thảo.
Hoạt động này nhằm giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu rõ nội dung, tác động dự kiến của chính sách; tham gia góp ý; chuẩn bị điều kiện cần thiết để tổ chức thi hành văn bản; đồng thời tạo sự đồng thuận xã hội và phản bác thông tin sai lệch, xuyên tạc.
Nội dung truyền thông bao gồm sự cần thiết, mục đích, quan điểm xây dựng, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và nội dung cơ bản của chính sách. Trong đó, ưu tiên nội dung có tác động lớn đến xã hội, có nhiều ý kiến khác nhau hoặc được dư luận quan tâm; nội dung mới, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ liên quan đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân.
Theo Điều 22, cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo phải chủ trì truyền thông; tiếp nhận, tổng hợp và giải trình đầy đủ, công khai, kịp thời các ý kiến góp ý, phản hồi.
Luật năm 2012 chưa có chế định riêng về truyền thông chính sách. Điều 12 Luật cũ chủ yếu quy định họp báo, ra thông cáo báo chí sau khi văn bản được ban hành.

5. Mở rộng quyền của công dân trong tiếp cận và tham gia xây dựng pháp luật
Khoản 1 Điều 2 Luật năm 2026 quy định công dân có quyền tiếp cận pháp luật; thụ hưởng, tham gia các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách; được hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật.
Đồng thời, khoản 2 Điều này quy định công dân có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp, pháp luật; có trách nhiệm chủ động học tập, tìm hiểu pháp luật và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
So với quy định cũ, quyền của công dân đã được mở rộng đáng kể. Điều 2 Luật năm 2012 mới quy định công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; Nhà nước bảo đảm, tạo điều kiện để thực hiện quyền này.
Như vậy, Luật năm 2026 chuyển từ “quyền được thông tin” sang “quyền tiếp cận pháp luật”, đồng thời bổ sung quyền thụ hưởng, tham gia hoạt động phổ biến pháp luật và góp ý xây dựng chính sách.
Quyền tham gia còn được thể hiện trong quy định về truyền thông chính sách. Cơ quan soạn thảo phải cung cấp thông tin để người dân hiểu và góp ý; đồng thời phải tiếp nhận, tổng hợp, giải trình công khai, kịp thời các phản hồi. Công dân không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật.
6. Bổ sung nhiều nhóm được ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật
Điều 16 Luật năm 2026 quy định lại danh sách đối tượng đặc thù, trong đó bổ sung hoặc xác định rõ nhiều nhóm cần được ưu tiên hỗ trợ tiếp cận pháp luật.
Các nhóm đáng chú ý gồm người lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất; người lao động có thu nhập thấp; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người cao tuổi; người bị bạo lực học đường hoặc bạo lực khác; người có hành vi bạo lực; nạn nhân mua bán người; người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và người chấp hành xong án phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng.
Theo Điều 17, Nhà nước xây dựng chương trình, đề án phổ biến pháp luật phù hợp với từng thời kỳ và tổ chức tập huấn kỹ năng chuyên biệt cho đội ngũ thực hiện phổ biến pháp luật đối với từng nhóm.
Khoản 1 Điều 18 yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan phải hướng dẫn nội dung, hình thức, bố trí kinh phí hằng năm và tổ chức phổ biến pháp luật cho đối tượng đặc thù thuộc phạm vi quản lý. Khoản 3 Điều 36 cũng quy định ưu tiên kinh phí cho các nhóm này.
Luật năm 2012 đã quy định một số đối tượng đặc thù nhưng chưa xác định riêng người cao tuổi, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người lao động có thu nhập thấp, nạn nhân mua bán người và người bị bạo lực học đường.
7. Cơ sở đào tạo phải đưa pháp luật liên quan đến ngành nghề vào chương trình
Theo khoản 5 Điều 19 Luật năm 2026, người học tại cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải được trang bị kiến thức pháp luật phù hợp với ngành, nghề đào tạo.
Khoản 2 Điều 20 quy định rõ cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trách nhiệm đưa nội dung pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo của người học vào chương trình để tổ chức giảng dạy.
Giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua chương trình chính khóa và ngoại khóa. Nội dung chính khóa có thể được thiết kế thành môn học, học phần riêng hoặc tích hợp trong môn học, học phần khác. Nội dung ngoại khóa được lồng ghép qua hoạt động trải nghiệm và giáo dục ngoài giờ chính khóa.
Luật năm 2012 cũng đề cập việc trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề tại điểm c khoản 2 Điều 23 và quy định hình thức giảng dạy tại Điều 24. Tuy nhiên, Luật năm 2026 xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong việc đưa nội dung này vào chương trình đào tạo.
Theo khoản 1 Điều 19 Luật mới, giáo dục pháp luật không chỉ nhằm trang bị kiến thức mà còn nâng cao kỹ năng sử dụng pháp luật và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật cho người học.
8. Luật sư, luật gia được lựa chọn làm báo cáo viên pháp luật
Khoản 1 Điều 33 Luật năm 2026 mở rộng thành phần báo cáo viên pháp luật, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân, luật sư và luật gia đáp ứng đủ tiêu chuẩn.
Người được lựa chọn phải có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, uy tín trong công tác và khả năng truyền đạt. Người có trình độ cử nhân luật trở lên phải có ít nhất hai năm công tác trong lĩnh vực pháp luật. Người có bằng cử nhân khác phải có ít nhất ba năm công tác liên quan đến pháp luật.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 35 Luật năm 2012 chỉ quy định báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan trong lực lượng vũ trang được công nhận để kiêm nhiệm phổ biến pháp luật, chưa liệt kê luật sư và luật gia.
Luật mới cũng chuyển từ cơ chế “quyết định công nhận” sang “lựa chọn, công bố danh sách”. Người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp hoặc tổ chức xã hội - nghề nghiệp về pháp luật được lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên của tổ chức mình trên cơ sở sự đồng ý của cá nhân.
Theo khoản 1 Điều 39, báo cáo viên pháp luật đã được công nhận trước ngày 01/3/2027 vẫn được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.

9. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở cấp xã
Theo khoản 2 Điều 7 Luật năm 2026, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở trung ương, cấp tỉnh và cấp xã. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng Trung ương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã quyết định thành lập Hội đồng ở cấp mình.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 7 cho phép thành lập Hội đồng tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan hoặc tổ chức ở trung ương theo quyết định của người đứng đầu.
Hội đồng có chức năng tư vấn về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và giải pháp huy động nguồn lực. Thành viên Hội đồng hoạt động kiêm nhiệm.
Theo Luật năm 2012, Hội đồng được thành lập ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Luật cũ chưa quy định Hội đồng cấp xã hoặc việc thành lập Hội đồng tại Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan, tổ chức trung ương.
10. Đánh giá phổ biến pháp luật dựa trên mức độ hiểu biết, tuân thủ và sự hài lòng
Điều 37 Luật năm 2026 lần đầu quy định riêng về đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Theo khoản 1 Điều này, cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật tổ chức đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo định kỳ hoặc đột xuất.
Tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên mức độ tiếp cận pháp luật, hiểu biết và tuân thủ pháp luật, sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng cùng các nội dung phù hợp khác. Người đứng đầu Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật có trách nhiệm ban hành các tiêu chí này.
Trong khi đó, Luật năm 2012 mới xác định thống kê, tổng kết, thanh tra và kiểm tra là các nội dung quản lý nhà nước, chưa có hệ thống đánh giá riêng và chưa coi sự hài lòng của người thụ hưởng là tiêu chí.
Trên đây là 10 điểm mới của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2026 từ 01/3/2027.
RSS