Cùng sinh năm 2008 nhưng có người được đi bầu cử ngày 15/3 tới, có người không, vì sao?

Đối với nhiều bạn trẻ, việc bước sang tuổi 18 và lần đầu cầm trên tay lá phiếu của mình là một dấu mốc đáng nhớ. Tuy nhiên, có câu hỏi được đặt ra là vì sao có những người cùng sinh năm 2008 nhưng người được đi bầu cử, người lại không?

1. Cùng sinh năm 2008 nhưng quyền bầu cử lại khác nhau, vì sao?

Theo Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp.

Căn cứ quy định này, đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 dự kiến tổ chức ngày 15/3/2026, công dân đủ 18 tuổi tính đến ngày này sẽ được ghi tên vào danh sách cử tri.

Điều đó có nghĩa là:

- Công dân có ngày sinh từ ngày 15/3/2008 trở về trước được xác định là đủ tuổi tham gia bầu cử.

- Công dân sinh sau ngày 15/3/2008 sẽ chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm bầu cử và không được ghi tên vào danh sách cử tri.

Chính vì vậy, dù cùng sinh năm 2008 nhưng chỉ cần khác nhau vài ngày sinh, quyền bầu cử đã có thể khác nhau. Do đó:

- Người sinh ngày 15/3/2008 được xác định là đã đủ 18 tuổi vào ngày bầu cử và được tham gia bỏ phiếu.

- Trong khi đó, người sinh ngày 16/3/2008 vẫn còn thiếu 01 ngày để đủ 18 tuổi nên chưa đủ điều kiện tham gia bầu cử trong kỳ này, và sẽ thực hiện quyền bầu cử ở nhiệm kỳ sau.

Cử tri là người có quyền bầu cử. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - là người có quốc tịch Việt Nam, tính đến ngày bầu cử (ngày 15/3/2026), đủ 18 tuổi trở lên và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về bầu cử đều có quyền bầu cử.
cùng sinh năm 2008 nhưng quyền bầu cử lại khác nhau
Cùng sinh năm 2008 nhưng quyền bầu cử lại khác nhau (Ảnh minh họa)

2. Cách tính tuổi để xác định quyền bầu cử

Theo hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia, việc xác định độ tuổi của công dân để thực hiện quyền bầu cử được tính theo nguyên tắc sau:

- Tuổi được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử. Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào thông tin trong Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu để xác định tuổi.

- Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng sinh dương lịch của năm sau.

-  Nếu không xác định được ngày sinh, lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ tính tuổi.

- Nếu không xác định được cả ngày và tháng sinh, lấy ngày 01/01 của năm sinh làm căn cứ tính tuổi để xác định quyền bầu cử và ứng cử.

Như vậy, việc xác định cử tri không dựa vào năm sinh, mà dựa vào ngày, tháng, năm sinh cụ thể.

3. Những người sinh sau ngày 15/3/2008 sẽ phải chờ kỳ bầu cử sau

Từ các quy định trên có thể thấy, công dân sinh sau ngày 15/3/2008 sẽ không đủ tuổi tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Những công dân này sẽ phải chờ đến kỳ bầu cử tiếp theo khi đã đủ 18 tuổi theo quy định.

Ngày bầu cử là dịp để mỗi cử tri thực hiện quyền và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Vì vậy, đặc biệt với những người lần đầu tham gia bầu cử, việc theo dõi thông tin chính thức, kiểm tra danh sách cử tri và chủ động sắp xếp thời gian đi bỏ phiếu là điều rất cần thiết.

Mỗi lá phiếu không chỉ thể hiện quyền công dân của mỗi người mà còn góp phần làm nên ngày hội toàn dân, nơi tiếng nói và lựa chọn của cử tri được thể hiện qua từng quyết định của mình.

Trên đây là thông tin giải đáp cho vướng mắc "Vì sao, cùng sinh năm 2008 nhưng quyền bầu cử lại khác nhau?"

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Khi nào được chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ra nước ngoài?

Khi nào được chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ra nước ngoài?

Khi nào được chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ra nước ngoài?

Việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ra nước ngoài không được thực hiện trong mọi trường hợp mà phải đáp ứng chặt chẽ các điều kiện theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Dưới đây là thông tin chi tiết.

Danh sách 58 ngành, nghề không còn là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (đề xuất)

Danh sách 58 ngành, nghề không còn là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (đề xuất)

Danh sách 58 ngành, nghề không còn là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (đề xuất)

Chính phủ đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đáng chú ý, dự thảo đề xuất bãi bỏ 58 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và sửa đổi 12 ngành, nghề khác tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư 2025.

Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Trí tuệ nhân tạo: 8 nội dung đáng chú ý

Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Trí tuệ nhân tạo: 8 nội dung đáng chú ý

Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Trí tuệ nhân tạo: 8 nội dung đáng chú ý

Trong bài viết dưới đây, LuatVietnam sẽ tổng hợp 8 nội dung đáng chú ý tại Nghị định 142/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 30/4/2026, hiệu lực từ 01/5/2026 về quản lý, phát triển và triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam. 

Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Việt Nam

Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Việt Nam

Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Việt Nam

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhờ tính linh hoạt, bảo mật và hiệu quả. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp đều có thể đưa ra trọng tài. Vậy theo quy định pháp luật Việt Nam, những điều kiện nào cần đáp ứng để tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài?