Bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031: Toàn bộ thông tin người dân cần biết

Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là sự kiện chính trị quan trọng ở địa phương. Dưới đây là toàn bộ những nội dung người dân cần biết về nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cử - ứng cử, tiêu chuẩn đại biểu... theo quy định hiện hành.
Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 được quy định tại Điều 2 Nghị quyết 199/2025/QH15 là vào Chủ nhật, ngày 15/3/2026.

1. Nguyên tắc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Theo Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, số 85/2015/QH13, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND được tiến hành theo bốn nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Có thể hiểu:

- Nguyên tắc phổ thông bảo đảm mọi công dân đủ điều kiện theo luật định đều có quyền tham gia bầu cử.

- Nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở việc mỗi cử tri có một phiếu bầu với giá trị ngang nhau.

- Nguyên tắc trực tiếp yêu cầu cử tri tự mình thực hiện quyền bầu cử.

- Nguyên tắc bỏ phiếu kín bảo đảm sự độc lập trong ý chí của cử tri, không bị tác động trái pháp luật.

Toàn bộ thông tin người dân cần biết về Bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
Việc đại biểu HĐND được tiến hành theo bốn nguyên tắc (Ảnh minh họa)

2. Ai có quyền bầu cử và ứng cử HĐND?

2.1 Quyền bầu cử

Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên tính đến ngày bầu cử có quyền bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND.

Tuổi của công dân được xác định theo ngày, tháng, năm sinh ghi trong giấy tờ hợp pháp.

2.2 Quyền ứng cử

Cũng tại Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2025, công dân đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu HĐND.

Việc ứng cử được thực hiện theo hai hình thức:

  • Tự ứng cử;
  • Được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu.

Theo khoản 3 Điều 36 Luật 2015 (đã được sửa đổi bởi Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi 2025, số 83/2025/QH15), công dân được nộp hồ sơ ứng cử đại biểu HĐND tối đa ở hai cấp trong cùng một nhiệm kỳ; nếu đã nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được nộp hồ sơ ứng cử HĐND ở một cấp.

3. Các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri

Theo Điều 30 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện luật định. Trong đó, khoản 1 Điều 30 quy định rõ các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri, gồm:

- Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

- Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án;

- Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo;

- Người mất năng lực hành vi dân sự theo xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Những người thuộc các trường hợp nêu trên không được đưa vào danh sách cử tri tại thời điểm lập danh sách.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 30 cũng quy định: nếu trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, người thuộc các trường hợp này được khôi phục quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được xác nhận không còn mất năng lực hành vi dân sự, thì sẽ được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri theo quy định tại Điều 29 của Luật này.

Ngoài các trường hợp bị hạn chế theo quy định nêu trên, mọi công dân đủ điều kiện theo luật định đều được ghi tên vào danh sách cử tri để thực hiện quyền bầu cử của mình.

4. Tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Theo khoản 2 Điều 3 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, số 85/2015/QH13 quy định tiêu chuẩn của người ứng cử.

2. Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương.

Khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025, số 72/2025/QH15 quy định đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.

Và đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

- Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

- Chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;

- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác;

- Có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân;

- Cư trú hoặc công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp ở đơn vị hành chính mà mình là đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.

Ngoài ra, theo Điều 9 (đã được sửa đổi bởi Luật số 83/2025/QH15), khi dự kiến cơ cấu, thành phần người ứng cử phải bảo đảm ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức ứng cử đại biểu HĐND là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với đặc điểm của từng địa phương.

5. Quy định về lập danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Theo Điều 29 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi 2025):

- Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên và cấp thẻ cử tri, trừ trường hợp bị tước quyền theo luật.

- Mỗi người chỉ được ghi tên vào một danh sách tại nơi thường trú hoặc tạm trú.

- Người tạm trú, quân nhân, người bị tạm giữ, tạm giam, giáo dục hoặc cai nghiện bắt buộc được ghi tên tại nơi đang cư trú, quản lý theo quy định.

- Công dân từ nước ngoài về trước thời điểm bỏ phiếu 24 giờ có thể được bổ sung vào danh sách.

Theo Điều 30 Luật Bầu cử, không ghi tên đối với:

  • Người bị tước quyền bầu cử;
  • Người chờ thi hành án tử hình;
  • Người chấp hành hình phạt tù không hưởng án treo;
  • Người mất năng lực hành vi dân sự.

Nếu trước thời điểm bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục quyền hoặc trả tự do thì được bổ sung lại.

UBND cấp xã có thẩm quyển lập danh sách. Danh sách được niêm yết chậm nhất 40 ngày trước ngày bầu cử .

Cử tri có quyền khiếu nại sai sót trong 30 ngày; cơ quan phải giải quyết trong 5 ngày. Cử tri có thể xin giấy chứng nhận để bỏ phiếu ở nơi khác. Tại hướng dẫn tại Công văn số 110/HĐBCQG, Hội đồng bầu cử Quốc gia cho phép cấp Giấy chứng nhận để cử tri tham gia bỏ phiếu ở nơi khác dưới dạng bản điện tử, hiển thị trên ứng dụng VNeID.

cho phep cay giay chung nhan cu tri tren vneid
Cho phép cấp Giấy chứng nhận để cử tri tham gia bỏ phiếu ở nơi khác dưới dạng bản điện tử (Ảnh minh họa)

6. Quy trình hiệp thương, lập danh sách ứng cử viên

Việc hiệp thương do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chủ trì, thực hiện qua ba vòng theo Điều 50, Điều 53 và Điều 56 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Hiệp thương lần thứ nhất: thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử;

Hiệp thương lần thứ hai: lập danh sách sơ bộ;

Hiệp thương lần thứ ba: lập danh sách chính thức người đủ tiêu chuẩn ứng cử.

Theo khoản 2 Điều 58 (đã được sửa đổi bởi Luật số 83/2025/QH15), chậm nhất 17 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử phải lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử.

7. Cách ghi phiếu bầu và các trường hợp phiếu không hợp lệ

7.1 Cách ghi phiếu bầu

Theo Điều 69 Luật số 85/2015/QH13, cử tri phải tự mình đi bầu, tự mình viết phiếu và bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trường hợp không tự viết được phiếu thì có thể nhờ người khác viết hộ nhưng phải tự mình bỏ phiếu.

Theo hướng dẫn của Hội đồng Bầu cử Quốc gia, cử tri được Tổ bầu cử hướng dẫn cụ thể cách ghi phiếu để bảo đảm đúng quy định pháp luật.

Khi không bầu cho người ứng cử nào, cử tri phải gạch ngang toàn bộ họ và tên của người đó (gạch đè lên cả hàng chữ). Không được khoanh tròn, đánh dấu, viết thêm hoặc ghi tên người ngoài danh sách. Không bầu quá số đại biểu được ấn định; không gạch hết tất cả người ứng cử; không để nguyên phiếu đối với phiếu có số dư.

Trường hợp gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang nhưng đã gạch hết họ và tên người ứng cử thì được tính là không bầu cho người đó. Nếu chỉ gạch một phần tên, hoặc khoanh tròn, gạch dưới, gạch trên thì vẫn được tính là bầu cho người đó.

Với người ứng cử có nhiều dòng tên (tên khai sinh, tên thường gọi, chức vị, pháp danh…), nếu chỉ gạch một dòng thì được tính là không bầu cho người đó.

Nếu viết hỏng và muốn đổi phiếu, cử tri phải nộp lại phiếu hỏng để Tổ bầu cử thu hồi trước khi nhận phiếu mới.

7.2 Các trường hợp phiếu không hợp lệ

Theo khoản 1 Điều 74 Luật số 85/2015/QH13, phiếu không hợp lệ gồm các trường hợp như:

- Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát ra;

- Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;

- Phiếu để số người được bầu nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử;

- Phiếu gạch xóa hết tên những người ứng cử;

- Phiếu ghi thêm tên người ngoài danh sách những người ứng cử hoặc phiếu có ghi thêm nội dung khác.

Trường hợp có phiếu bầu được cho là không hợp lệ thì Tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra để toàn Tổ xem xét, quyết định. Tổ bầu cử không được gạch xóa hoặc sửa các tên ghi trên phiếu bầu.

8. Các hành vi bị nghiêm cấm trong bầu cử

Căn cứ Điều 68 và Điều 95 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (số 85/2015/QH13), các hành vi sau đây bị nghiêm cấm trong bầu cử và vận động bầu cử:

Thứ nhất, lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật; xâm hại danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

Thứ hai, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng phục vụ cho việc vận động bầu cử.

Thứ ba, lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp trong nước hoặc nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.

Thứ tư, sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất nhằm lôi kéo, mua chuộc cử tri.

Ngoài ra, theo Điều 95 của Luật này, các hành vi như dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm cản trở việc bầu cử, ứng cử của công dân; giả mạo giấy tờ; gian lận phiếu bầu; làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc vi phạm các quy định khác về bầu cử đều bị xử lý theo tính chất, mức độ vi phạm. Người vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

9. Khi nào phải bầu cử thêm hoặc bầu cử lại đại biểu HĐND?

9.1 Trường hợp bầu cử thêm

Điều 79 Luật Bầu cử, bầu cử thêm được thực hiện khi sau cuộc bầu cử đầu tiên chưa bầu đủ số đại biểu theo ấn định đối với đại biểu HĐND, cụ thể nếu số người trúng cử chưa đạt hai phần ba số đại biểu được bầu, Ủy ban bầu cử cấp đó quyết định việc bầu cử thêm.

Theo quy định đã được sửa đổi tại Luật số 83/2025/QH15, bầu cử thêm phải tiến hành chậm nhất 07 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên (thay cho 15 ngày trước đây).

Trong bầu cử thêm, cử tri chỉ được chọn trong danh sách những người ứng cử ở lần đầu nhưng chưa trúng cử. Nếu vẫn chưa đủ số lượng đại biểu thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.

9.2 Trường hợp bầu cử lại 

Theo Điều 80 Luật Bầu cử, bầu cử lại được thực hiện khi tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách tại đơn vị bầu cử.

Đối với bầu cử đại biểu HĐND: Ủy ban bầu cử cấp đó quyết định ngày bầu cử lại sau khi báo cáo và được Hội đồng bầu cử quốc gia đồng ý.

Thời hạn tổ chức bầu cử lại cũng không quá 07 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên (theo sửa đổi năm 2025).

Nếu bầu cử lại mà tỷ lệ cử tri vẫn chưa đạt quá một nửa thì kết quả bầu cử lại vẫn được công nhận, không tổ chức lần thứ hai.

truong hop bau cu them
Quy định về trường hợp bầu cử thêm, bầu cử lại (Ảnh minh họa)

10. Vai trò, nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân

10.1 Vai trò của đại biểu HĐND

Theo Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025, số 72/2025/QH15, đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương; chịu trách nhiệm trước cử tri và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước ở địa phương.

10.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND

Theo Điều 33 Luật 72/2025/QH15, đại biểu Hội đồng nhân dân có các nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu:

- Bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân.

- Tham dự đầy đủ kỳ họp, phiên họp, thảo luận và biểu quyết; nếu không tham dự phải có lý do chính đáng.

- Liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thường xuyên tiếp xúc, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; phổ biến, vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.

- Thực hiện tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo Luật số 72/2025/QH15, đại biểu Hội đồng nhân dân vừa là người đại diện cho Nhân dân địa phương, vừa trực tiếp tham gia quyết định và giám sát các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân theo quy định pháp luật.

Trên đây là nội dung liên quan đến Bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031: Toàn bộ thông tin người dân cần biết.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(1 đánh giá)

Tin cùng chuyên mục

Giá tròng kính chính hãng tăng mỗi năm: Sự thật từ Kính Hải Triều

Giá tròng kính chính hãng tăng mỗi năm: Sự thật từ Kính Hải Triều

Giá tròng kính chính hãng tăng mỗi năm: Sự thật từ Kính Hải Triều

Giá tròng kính chính hãng từ các thương hiệu quang học lớn có sự điều chỉnh định kỳ theo từng chu kỳ sản phẩm. Trước thực tế này, Kính Hải Triều - chuỗi bán lẻ tròng kính chính hãng tại Việt Nam - công khai toàn bộ bảng giá niêm yết và lý do biến động, để người tiêu dùng có đủ thông tin trước khi đưa ra quyết định.