Chính sách mới về bảo hiểm hiệu lực tháng 5/2026

Trong bài viết dưới đây, LuatVietnam sẽ tổng hợp các chính sách mới về lĩnh vực bảo hiểm có hiệu lực tháng 5/2026 theo quy định của pháp luật.

1. Bảo hiểm tiền gửi được mở rộng phạm vi chi trả, không cần chờ ngân hàng phá sản

Trước đây, tại Điều 22 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 số 06/2012/QH13, quy định nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm chỉ phát sinh trong trường hợp:

- Kể từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vẫn lâm vào tình trạng phá sản hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền.

Theo quy định mới, theo Điều 21 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025, số 111/2025/QH15 nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ một trong các thời điểm sau: 

- Phương án phá sản tổ chức tín dụng được phê duyệt hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền. 

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt và tổ chức tín dụng đó có lỗ lũy kế lớn hơn 100% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất. 

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi về việc trả tiền bảo hiểm để đảm bảo an toàn hệ thống trật tự an toàn xã hội trong trường hợp tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt bị mất hoặc có quy cơ mất khả năng chi trả. 

Như vậy, hai trường hợp mới được bổ sung được đánh giá là mang tính đột phá. Việc bổ sung hai trường hợp chi trả sớm này giúp ổn định tâm lý người gửi tiền, giảm khả năng rút tiền hàng loạt và tăng tính chủ động trong xử lý tổ chức tín dụng yếu kém.

Chính sách mới về bảo hiểm hiệu lực tháng 5/2026
Chính sách mới về bảo hiểm hiệu lực tháng 5/2026 (Ảnh minh hoạ)

 

2. Thay đổi hạn mức trả tiền bảo hiểm tiền gửi

Trước đây, hạn mức trả tiền bảo hiểm được quy định tại Điều 3 Quyết định 32/2021/QĐ-TTg như sau:

- Số tiền tối đa tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là 125 triệu đồng 

Theo quy định mới, căn cứ khoản 1 Điều 22 Luật bảo hiểm tiền gửi 2025, số 111/2025/QH15:

- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định hạn mức chi trả tiền bảo hiểm trong từng thời kỳ

Như vậy, Luật mới giao Thống đốc Ngân hàng nhà nước thực hiện quyền quyết định hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi theo từng thời kỳ để phù hợp với điều kiện thực tế. Việc trao quyền điều chỉnh hạn mức cho Thống đốc giúp cơ quan quản lý linh hoạt hơn trong các giai đoạn kinh tế, phản ứng nhanh với biến động thị trường và lạm phát, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền.

3. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phép cho vay đặc biệt với lãi suất 0%

Theo khoản 1 Điều 38 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025, số 111/2025/QH15 quy định về vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như sau:

- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được vay đặc biệt với lãi suất 0%, không có tài sản bảo đảm từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm. 

- Số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm được xác định khi tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã sử dụng hết số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ mà vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. 

- Việc bán giấy tờ có giá chưa đến hạn, rút các khoản tiền gửi chưa đến hạn phải bảo đảm nguyên tắc bảo toàn vốn trong hoạt động đầu tư.

Như vậy, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng được phép cho vay đặc biệt với lãi suất 0% đối với các ngân hàng tham gia bảo hiểm, nhằm hỗ trợ kịp thời khi tổ chức tín dụng gặp khó khăn về thanh khoản. Đồng thời, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể vay từ Ngân hàng Nhà nước với lãi suất 0%, không cần tài sản bảo đảm để thực hiện chi trả sớm khi quỹ dự phòng không đủ đáp ứng.

4. Điều chỉnh quy định về phân phối chênh lệch thu chi tài chính hàng năm

Trước đây, theo Thông tư số 312/2016/TT-BTC quy định về xử lý chênh lệch thu chi tài chính hàng năm như sau: 

- Mức tỷ lệ trích quỹ đầu tư phát triển: tối đa 30%

- Gồm 02 quỹ khen thưởng: quỹ thưởng người quản lý và quỹ khen thưởng cho người lao động trong Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

- Mức trích tối đa quỹ khen thưởng, phúc lợi nếu Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được xếp loại B: không quá 1,5 tháng lương (đối với quỹ khen thưởng và phúc lợi cho người lao động); không quá 01 tháng lương (đối với quỹ thưởng người quản lý)

Theo Điều 17 Thông tư 33/2026/TT-BTC quy định về phân phối chênh lệch thu chi tài chính hàng năm như sau:

- Điều chỉnh mức tỷ lệ trích quỹ đầu tư phát triển: không quá 10%

- Gộp 02 quỹ thưởng người quản lý và quỹ khen thưởng cho người lao động trong Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thành 01 quỹ khen thưởng để chi cho công tác khen thưởng, hoạt động phúc lợi của người lao động, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác theo quy định của pháp luật 

- Điều chỉnh về mức trích quỹ khen thưởng, phúc lợi nếu Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam xếp loại B: không quá 02 tháng lương 

- Bổ sung quy định: Trích không quá 5% vào quỹ dự phòng tài chính; mức tối đa của quỹ này không vượt quá 20% mức vốn điều lệ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; 

Như vậy, quy định mới đã điều chỉnh lại cơ chế phân phối chênh lệch thu chi tài chính hàng năm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam theo hướng giảm tỷ lệ trích quỹ đầu tư phát triển, cơ cấu lại các quỹ khen thưởng, phúc lợi và bổ sung quỹ dự phòng tài chính.

Điều chỉnh quy định về phân phối chênh lệch thu chi tài chính hàng năm
Điều chỉnh quy định về phân phối chênh lệch thu chi tài chính hàng năm (Ảnh minh hoạ)

5. Điều chỉnh về thời hạn gửi kế hoạch tài chính

Trước đây, theo khoản 1 Điều 24 Thông tư số 312/2016/TT-BTC, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trách nhiệm lập và gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dự kiến kế hoạch tài chính (Biểu mẫu báo cáo Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam lập theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này) trước ngày 01 tháng 3 năm kế hoạch.

Theo điểm a khoản 2 Điều 19 Thông tư 33/2026/TT-BTC, trước ngày 01 tháng 2 của năm kế hoạch, căn cứ kết quả hoạt động của năm trước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam rà soát, hoàn chỉnh kế hoạch tài chính (theo Phụ lục kèm theo Thông tư này) gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính để phục vụ công tác giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.

Như vậy, quy định mới đã điều chỉnh thời hạn gửi kế hoạch tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam theo hướng sớm hơn so với trước đây.

6. Điều chỉnh quy định xử phạt vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc

Trước đây, theo điểm c khoản 1 Điều 60 Nghị định 117/2020/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi điểm a khoản 17 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc như sau:

- Phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi không tiến hành lưu mẫu thuốc thành phẩm ít nhất 12 tháng sau khi hết hạn dùng của thuốc

Theo Điều 60 Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc như sau:

- Phạt tiền từ 05 - 10 triệu đồng nếu không tiến hành lưu mẫu thuốc thành phẩm đối với thuốc nhập khẩu phải lưu mẫu theo quy định ít nhất 12 tháng sau khi hết hạn dùng của thuốc;

Như vậy, quy định mới đã làm rõ việc xử phạt vi phạm đối với hành vi không tiến hành lưu mẫu thuốc thành phẩm theo quy định ít nhất 12 tháng sau khi hết hạn dùng của thuốc chỉ đối với thuốc nhập khẩu phải lưu mẫu.

Bên cạnh đó, Nghị định 90/2026/NĐ-CP đã bổ sung mức phạt của một số hành vi vi phạm tại Điều 60 như sau:

  • Phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng nếu không thực hiện báo cáo thu hồi thuốc tự nguyện thuốc, nguyên liệu làm thuốc theo quy định của pháp luật.

  • Phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng nếu xuất khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc không phù hợp với thông tin ghi trên giấy phép xuất khẩu hoặc văn bản cho phép xuất khẩu trừ trường hợp số lượng xuất khẩu thực tế ít hơn số lượng cấp phép xuất khẩu;

  • Phạt tiền từ 70 - 80 triệu đồng nếu nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc không có giấy phép nhập khẩu, trừ trường hợp thuốc, nguyên liệu làm thuốc không phải cấp phép nhập khẩu trước khi lưu hành theo quy định của pháp luật hoặc nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc có một trong các thông tin về hoạt chất, nồng độ/hàm lượng, dạng bào chế, cơ sở sản xuất không phù hợp với giấy phép nhập khẩu;

  • Phạt tiền từ 70 - 80 triệu đồng nếu tiếp tục cung cấp hoặc nhập khẩu thuốc vào Việt Nam sau khi cơ sở sản xuất nước ngoài bị thu hồi giấy phép sản xuất hoặc không đáp ứng thực hành tốt sản xuất thuốc.

Trên đây là thông tin về việc Chính sách mới về bảo hiểm hiệu lực tháng 5/2026…

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục