Pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội quy định nhiều quyền lợi dành cho lao động nữ, đặc biệt trong thời gian mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ. Dưới đây là tổng hợp các quyền lợi đáng chú ý.
- 1. Lao động nữ sinh con được nghỉ thai sản 6 tháng, sinh con thứ hai được nghỉ 7 tháng
- 2. Lao động nữ sinh đôi trở lên được nghỉ thai sản thêm thời gian
- 3. Lao động nữ được nghỉ khám thai tối đa 5 lần, mỗi lần không quá 2 ngày
- 4. Lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sảy thai, thai chết lưu
- 5. Lao động nữ được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản từ 5 đến 10 ngày
- 6. Lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút mỗi ngày
- 7. Lao động nữ được nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh
- 8. Lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ được bảo vệ khỏi việc sa thải, chấm dứt hợp đồng trái quy định
- 9. Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 không phải làm đêm, làm thêm giờ, đi công tác xa
- 10. Lao động nữ mang thai được chuyển sang công việc nhẹ hơn hoặc giảm 1 giờ làm việc mỗi ngày
- 11. Lao động nữ được bảo đảm việc làm sau khi nghỉ thai sản
- 12. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ đang mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi
- 13. Lao động nữ mang thai được đơn phương chấm dứt hoặc tạm hoãn hợp đồng lao động
- 14. Lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản khi khám sức khỏe định kỳ
- 15. Lao động nữ sinh con được hưởng trợ cấp một lần bằng 2 lần mức tham chiếu
- 16. Lao động nữ được hưởng tiền chế độ thai sản và có thể đi làm trước khi hết thời gian nghỉ
1. Lao động nữ sinh con được nghỉ thai sản 6 tháng, sinh con thứ hai được nghỉ 7 tháng
Theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con 6 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 2 tháng.
Trường hợp sinh đôi trở lên, tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng.
Đáng chú ý, từ ngày 01/7/2026, chính sách nghỉ thai sản 7 tháng khi sinh con thứ hai chính thức được áp dụng. Cụ thể, khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025 quy định sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 như sau:
Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
Như vậy, cần phân biệt hai trường hợp:
- Sinh con theo chế độ thông thường: Nghỉ thai sản 06 tháng.
- Sinh con thứ hai thuộc diện áp dụng chính sách mới: Nghỉ thai sản 07 tháng.
Đối với thời gian nghỉ thai sản được hưởng BHXH, việc xác định mức hưởng và điều kiện hưởng thực hiện theo pháp luật về BHXH.

2. Lao động nữ sinh đôi trở lên được nghỉ thai sản thêm thời gian
Theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên, tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm 1 tháng.
Chẳng hạn, theo chế độ thai sản thông thường, lao động nữ sinh đôi được nghỉ 7 tháng, sinh ba được nghỉ 8 tháng.
Quy định này nhằm tạo điều kiện cho lao động nữ có thêm thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng nhiều trẻ sơ sinh cùng lúc.
3. Lao động nữ được nghỉ khám thai tối đa 5 lần, mỗi lần không quá 2 ngày
Theo Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nữ mang thai được nghỉ việc để đi khám thai tối đa 5 lần, mỗi lần không quá 2 ngày.
Thời gian nghỉ tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ hằng tuần.
Lao động nữ đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản được cơ quan BHXH giải quyết chế độ trong thời gian nghỉ khám thai theo quy định.
4. Lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sảy thai, thai chết lưu
Căn cứ Điều 52 Luật bảo hiểm xã hội 2024, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi sẩy thai, phá thai, thai chết lưu được quy định như sau:
- Tối đa 10 ngày: Thai dưới 05 tuần tuổi.
- Tối đa 20 ngày: Thai từ đủ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi.
- Tối đa 40 ngày: Thai từ đủ 13 tuần tuổi đến dưới 22 tuần tuổi.
- 50 ngày nếu thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên.
Trong các trường hợp trên, lao động nữ được hưởng trợ cấp theo ngày (khoản 2 Điều 53).:
Trợ cấp theo ngày = Mức trợ cấp một tháng chia cho 24 ngày.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
2. Trường hợp lao động nữ mang thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 của Luật này mà bị sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ thì lao động nữ và người chồng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như trường hợp lao động nữ sinh con.
Có nghĩa, lao động nữ mang thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản mà bị sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ thì lao động nữ và người chồng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
5. Lao động nữ được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản từ 5 đến 10 ngày
Theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản mà sức khỏe chưa phục hồi, đáp ứng các điều kiện luật định, được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
Thời gian nghỉ tối đa được xác định như sau:
- 10 ngày nếu sinh một lần từ hai con trở lên;
- 7 ngày nếu sinh con phải phẫu thuật;
- 5 ngày đối với các trường hợp khác.
Mức trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe một ngày bằng 30% mức tham chiếu theo quy định.
6. Lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút mỗi ngày
Khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 quy định lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút mỗi ngày trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt sữa, trữ sữa hoặc nghỉ ngơi.
Thời gian nghỉ này vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Theo khoản 4 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để bố trí thời gian nghỉ linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế.
Doanh nghiệp không được tự ý cắt giảm quyền lợi này. Trường hợp không bảo đảm thời gian nghỉ theo quy định có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

7. Lao động nữ được nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh
Theo khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút trong thời gian làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương.
Khoản 3 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định thời gian nghỉ tối thiểu 30 phút/ngày, tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương.
Số ngày nghỉ do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế, nhưng tối thiểu là 3 ngày làm việc trong một tháng.
Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để tiếp tục làm việc thì ngoài tiền lương theo hợp đồng, người lao động được trả thêm tiền lương tương ứng với thời gian đáng lẽ được nghỉ.
8. Lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ được bảo vệ khỏi việc sa thải, chấm dứt hợp đồng trái quy định
Khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 nêu rõ:
3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.
Như vậy, pháp luật nghiêm cấm người sử dụng lao động sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do người lao động kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ các trường hợp ngoại lệ được luật quy định.
Đặc biệt, nếu hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng pháp luật không quy định mọi hợp đồng lao động đều đương nhiên được gia hạn khi người lao động mang thai.
9. Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 không phải làm đêm, làm thêm giờ, đi công tác xa
Theo khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp:
- Mang thai từ tháng thứ 7 hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
- Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người lao động đồng ý.
Như vậy, đối với lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, việc làm đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa phải có sự đồng ý của chính người lao động.
10. Lao động nữ mang thai được chuyển sang công việc nhẹ hơn hoặc giảm 1 giờ làm việc mỗi ngày
Khoản 2 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 quy định lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con, khi mang thai và đã thông báo cho người sử dụng lao động, được:
- Chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn; hoặc
- Giảm bớt 1 giờ làm việc hằng ngày.
Việc chuyển công việc hoặc giảm giờ làm không được làm giảm tiền lương, quyền và lợi ích của người lao động. Quyền lợi được bảo đảm đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
11. Lao động nữ được bảo đảm việc làm sau khi nghỉ thai sản
Điều 140 Bộ luật Lao động 2019 quy định lao động nữ sau khi nghỉ thai sản được bảo đảm trở lại làm công việc cũ mà không bị cắt giảm tiền lương, quyền và lợi ích so với trước khi nghỉ.
Nếu công việc cũ không còn, người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.
Quy định này nhằm hạn chế tình trạng người lao động bị giảm thu nhập, mất vị trí việc làm hoặc bị bố trí công việc bất lợi sau thời gian sinh con.
12. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ đang mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Theo điểm d khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Đây là quy định bảo vệ người lao động trong giai đoạn cần được chăm sóc đặc biệt về sức khỏe và gia đình.
Tuy nhiên, việc không được xử lý kỷ luật trong khoảng thời gian này không đồng nghĩa với việc mọi hành vi vi phạm đều được miễn trách nhiệm kỷ luật.
Khi hết thời gian được bảo vệ, việc xử lý kỷ luật, nếu có, phải tuân thủ quy định về thời hiệu và trình tự, thủ tục pháp luật.

13. Lao động nữ mang thai được đơn phương chấm dứt hoặc tạm hoãn hợp đồng lao động
Điều 138 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
Điều 138. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai
1. Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.
Như vậy, lao động nữ mang thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền rằng việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi.
Khi thực hiện quyền này, người lao động phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận y tế.
Trường hợp tạm hoãn hợp đồng, thời gian tạm hoãn do hai bên thỏa thuận nhưng tối thiểu phải bằng thời gian cơ sở y tế chỉ định tạm nghỉ, nếu có.
14. Lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản khi khám sức khỏe định kỳ
Theo khoản 2 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, khi khám sức khỏe định kỳ, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản.
Khoản 1 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP cũng quy định nội dung khám chuyên khoa phụ sản được thực hiện theo danh mục do Bộ Y tế ban hành. Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo quy định; thông thường ít nhất một lần mỗi năm, một số nhóm lao động được khám với tần suất cao hơn.
15. Lao động nữ sinh con được hưởng trợ cấp một lần bằng 2 lần mức tham chiếu
Theo khoản 1 và khoản 4 Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nữ sinh con đáp ứng điều kiện hưởng chế độ thai sản được nhận trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 2 lần mức tham chiếu tại tháng sinh.
Trong thời gian chưa bãi bỏ mức lương cơ sở, mức tham chiếu bằng mức lương cơ sở theo Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Với mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng áp dụng từ ngày 01/7/2026, mức trợ cấp một lần tương ứng là 5.060.000 đồng cho mỗi con. Khoản trợ cấp này được hưởng ngoài tiền chế độ thai sản hằng tháng, nếu người lao động đáp ứng các điều kiện theo quy định.
16. Lao động nữ được hưởng tiền chế độ thai sản và có thể đi làm trước khi hết thời gian nghỉ
Theo khoản 1 Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức trợ cấp thai sản hằng tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc của 6 tháng gần nhất trước khi nghỉ hưởng chế độ.
Đối với lao động nữ sinh con thứ hai từ ngày 01/7/2026, nếu đủ điều kiện, thời gian hưởng trợ cấp thai sản tương ứng với 7 tháng nghỉ theo chính sách mới.
Ngoài ra, khoản 4 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 cho phép lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản nếu đã nghỉ ít nhất 4 tháng, có xác nhận của cơ sở y tế rằng việc đi làm sớm không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đồng thời báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý.
Khi đi làm sớm, người lao động được hưởng tiền lương cho những ngày làm việc và tiếp tục hưởng trợ cấp thai sản theo quy định.
Như vậy, lao động nữ được pháp luật bảo vệ trên nhiều phương diện, từ điều kiện làm việc, chăm sóc sức khỏe sinh sản đến bảo đảm việc làm và các chế độ thai sản. Đặc biệt, chính sách nghỉ thai sản 7 tháng khi sinh con thứ hai từ ngày 01/7/2026 là một thay đổi quan trọng.
Trên đây là thông tin về 16 quyền lợi của lao động nữ theo quy định mới nhất.
RSS