1. Sử dụng lao động nữ mang thai làm thêm giờ bị phạt thế nào?
Theo điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 283 2026 NĐ-CP, người sử dụng lao động bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng nếu sử dụng người lao động thuộc trong trường hợp sau:
Sử dụng người lao động mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo làm thêm giờ hoặc làm việc ban đêm hoặc đi công tác xa.
Ngoài ra, mức phạt này cũng áp dụng đối với người sử dụng lao động có các hành vi vi phạm sau:
- Sử dụng người lao động đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ hoặc làm việc ban đêm hoặc đi công tác xa, trừ trường hợp được người lao động đồng ý;
- Không thực hiện việc chuyển công việc hoặc giảm giờ làm đối với lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai mà người lao động đã thông báo với người sử dụng lao động biết, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận.
Đáng chú ý, mức phạt trên chỉ áp dụng đối với cá nhân vi phạm. Nếu tổ chức có cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Do đó, doanh nghiệp sử dụng lao động mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu người lao động làm việc tại vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để làm thêm giờ có thể bị phạt từ 20 - 40 triệu đồng.

2. Lao động mang thai từ tháng thứ 07 không được làm thêm giờ kể cả khi đồng ý?
Căn cứ vào khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa khi người lao động:
- Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc mang thai từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
- Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.
Như vậy, người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động đang mang thai từ tháng thứ 7 để làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa kể cả khi người lao đồng đồng ý.
3. Điều kiện người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ
Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động. (Theo khoản 1 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019)
Căn cứ vào khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động quy định người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Phải được sự đồng ý của người lao động về thời gian, địa điểm và công việc làm thêm;
- Bảo đảm được số giờ làm thêm của người lao động:
- Không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày;
- Tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày;
- Không quá 40 giờ trong 01 tháng;
- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm;
- Người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:
- Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;
- Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
- Giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;
- Giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm;
- Giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;
- Trường hợp khác do Chính phủ quy định.
Lưu ý: Đối với trường hợp làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm như trên, khi tổ chức làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Trên đây là thông tin về Sử dụng lao động nữ mang thai làm thêm giờ bị phạt thế nào?
RSS