
Theo khoản 8 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC, tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm lưu giữ hồ sơ chứng minh người phụ thuộc của người nộp thuế và cung cấp hồ sơ này để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc trong các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, từ 01/7/2026, doanh nghiệp trả thu nhập cho người lao động cần lưu ý trách nhiệm lưu trữ đầy đủ hồ sơ chứng minh người phụ thuộc đối với các trường hợp người lao động đăng ký giảm trừ gia cảnh thông qua doanh nghiệp. Đây là căn cứ quan trọng để chứng minh việc tính giảm trừ gia cảnh là đúng đối tượng, đúng điều kiện khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra.
Theo Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC, hồ sơ chứng minh người phụ thuộc được xác định theo từng nhóm đối tượng. Chẳng hạn, đối với con, hồ sơ có thể gồm giấy khai sinh, thẻ căn cước hoặc giấy tờ pháp lý khác chứng minh quan hệ; trường hợp con đang học thì có thêm thẻ sinh viên, giấy xác nhận của cơ sở giáo dục hoặc giấy tờ chứng minh đang theo học. Đối với vợ, chồng, cha mẹ, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng, cha dượng, mẹ kế, cha nuôi, mẹ nuôi hoặc cá nhân khác không nơi nương tựa, hồ sơ được xác định theo từng trường hợp cụ thể tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC.
Bên cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp, theo khoản 6 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC, người nộp thuế phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của việc đăng ký, thay đổi người phụ thuộc và kê khai thu nhập của người phụ thuộc. Trường hợp kê khai không đúng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật có liên quan.
Ngoài ra, theo khoản 9 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC, cơ quan thuế được khai thác, sử dụng dữ liệu từ Cổng Dịch vụ công Quốc gia, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành để xác định người phụ thuộc. Nếu không khai thác được dữ liệu, người nộp thuế phải cung cấp giấy tờ chứng minh theo quy định.
RSS