Đề xuất: Giáo viên mầm non công tác từ năm 1960 đến trước năm 1995 được hưởng trợ cấp

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ đề xuất thực hiện chế độ trợ cấp đối với giáo viên mầm non từng công tác trong giai đoạn từ năm 1960 đến trước ngày 01/01/1995 nhưng chưa được hưởng chế độ tương ứng.

Theo khoản 1 Điều 1 dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về chế độ trợ cấp đối với giáo viên mầm non đã nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ, phạm vi điều chỉnh bao gồm giáo viên, cô nuôi dạy trẻ, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, chủ nhiệm nhà trẻ và phó chủ nhiệm nhà trẻ đã nghỉ công tác nhưng chưa được hưởng chế độ.

Giáo viên mầm non công tác từ năm 1960 đến trước năm 1995 được hưởng trợ cấp
Giáo viên mầm non công tác từ năm 1960 đến trước năm 1995 được hưởng trợ cấp (Ảnh minh họa)

Khoản 1 Điều 2 dự thảo quy định giáo viên mầm non phải đồng thời đáp ứng ba nhóm điều kiện để được hưởng trợ cấp.

Thứ nhất, người đề nghị phải có thời gian tham gia giảng dạy, giáo dục, nuôi dưỡng hoặc chăm sóc trẻ tại nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc lớp vỡ lòng trong giai đoạn từ năm 1960 đến trước ngày 01/01/1995.

Cơ sở giáo dục mầm non được đề cập trong dự thảo có phạm vi tương đối rộng, bao gồm cơ sở tại xã, phường, khu phố, thôn, làng, bản, nông lâm trường, đội sản xuất, hợp tác xã, nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, xí nghiệp và cơ quan.

Thứ hai, giáo viên đã nghỉ công tác và chưa được hưởng lương hưu. Trường hợp đang hưởng lương hưu vẫn có thể thuộc đối tượng áp dụng nếu thời gian công tác tại cơ sở giáo dục mầm non trước ngày 01/01/1995 không được tính vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để hưởng lương hưu.

Thứ ba, giáo viên chưa được hưởng chế độ theo Nghị định 14/2020/NĐ-CP về trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu.

Như vậy, người đề nghị không chỉ cần chứng minh từng làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non trước năm 1995 mà còn phải đáp ứng điều kiện liên quan đến lương hưu, bảo hiểm xã hội và các chế độ đã được giải quyết trước đó.

Mức trợ cấp cụ thể được xác định theo Điều 3 dự thảo. Trong đó, mức cơ bản là 6,5 triệu đồng; trường hợp có trên 03 năm công tác và xác định được thời gian làm việc thì được cộng thêm trợ cấp theo số năm, tháng thực tế.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Trường học, bệnh viện làm chủ đầu tư dự án sử dụng chi thường xuyên phải đáp ứng điều kiện về năng lực

Trường học, bệnh viện làm chủ đầu tư dự án sử dụng chi thường xuyên phải đáp ứng điều kiện về năng lực

Trường học, bệnh viện làm chủ đầu tư dự án sử dụng chi thường xuyên phải đáp ứng điều kiện về năng lực

Ngày 11/8/2026, Bộ Xây dựng ban hành Công văn 12637/BXD-KTQLXD hướng dẫn một số vướng mắc trong quá trình triển khai các quy định mới về quản lý hoạt động xây dựng.

Từ 10/08/2026, giáo viên trung học nghề dạy chuyên môn nghề thực hiện từ 400 - 510 giờ chuẩn/năm học

Từ 10/08/2026, giáo viên trung học nghề dạy chuyên môn nghề thực hiện từ 400 - 510 giờ chuẩn/năm học

Từ 10/08/2026, giáo viên trung học nghề dạy chuyên môn nghề thực hiện từ 400 - 510 giờ chuẩn/năm học

Đây là một trong những quy định mới đáng chú ý tại Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định về mã số, chuẩn nghề nghiệp, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề, có hiệu lực từ ngày 10/8/2026.

Chứng chỉ chức danh nghề nghiệp GDNN, giáo viên THPT cấp trước 30/9/2026 được công nhận tương đương chứng chỉ giáo viên trung học nghề

Chứng chỉ chức danh nghề nghiệp GDNN, giáo viên THPT cấp trước 30/9/2026 được công nhận tương đương chứng chỉ giáo viên trung học nghề

Chứng chỉ chức danh nghề nghiệp GDNN, giáo viên THPT cấp trước 30/9/2026 được công nhận tương đương chứng chỉ giáo viên trung học nghề

Quy định nêu tại Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề, ban hành ngày 10/8/2026.