LuatVietnam.vn gửi đến quý độc giả điểm tin VBPL tuần từ 03/4 - 09/4/2026 với các nội dung nổi bật liên quan đến Luật Hành chính, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai…
- 1. Luật Hành chính
- 1.1. Quy định về xử phạt hành chính luật sư, công chứng, hôn nhân gia đình
- 1.2. Chỉ thành lập tổ chức hành chính mới trong trường hợp thật sự cần thiết
- 1.3. Từ 15/5/2026, học sinh trường giáo dưỡng được gọi điện, video call tới 4 lần/tháng
- 1.4. Phân cấp quản lý tổ chức cán bộ trong hệ thống Thi hành án dân sự
- 2. Luật Đất đai
- 2.1. Tăng trần thu nhập mua nhà ở xã hội từ 07/4/2026
- 3. Luật Đầu tư
- 3.1. Dự án đầu tư ra nước ngoài có vốn từ 7 tỷ phải xin Giấy chứng nhận của Bộ Tài chính
- 3.2. Sửa đổi quy định về quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài
- 4. Luật Môi trường
- 4.1. Từ 25/5/2026, doanh nghiệp bắt buộc tái chế sản phẩm, bao bì theo cơ chế EPR
- 5. Luật Doanh nghiệp
- 5.1. Từ 01/7/2026, không còn yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 10 tỷ khi đăng ký bán hàng đa cấp
- 6. Luật sở hữu trí tuệ
- 6.1. Quy định về quyền với đối tượng sở hữu công nghiệp do AI tạo ra
- 7. Luật Ngân hàng
- 7.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi quy định cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng
1. Luật Hành chính
1.1. Quy định về xử phạt hành chính luật sư, công chứng, hôn nhân gia đình
Ngày 01/04/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực:
- Bổ trợ tư pháp, bao gồm: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; chứng thực; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại;
- Hành chính tư pháp, bao gồm: hộ tịch; quốc tịch; nuôi con nuôi; phổ biến, giáo dục pháp luật; trợ giúp pháp lý; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp; đăng ký biện pháp bảo đảm; bồi thường nhà nước;'
- Hôn nhân và gia đình;
- Thi hành án dân sự, bao gồm: thi hành án dân sự, thừa phát lại;
- Phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
1.2. Chỉ thành lập tổ chức hành chính mới trong trường hợp thật sự cần thiết
Nghị định số 121/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 03/4/2026, có hiệu lực từ ngày 05/4/2026 đã đặt ra nguyên tắc quan trọng trong việc thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính.
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 121/2026/NĐ-CP quy định rõ: việc thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính phải bảo đảm đúng điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật; đồng thời, chỉ thành lập tổ chức hành chính mới trong trường hợp cá biệt thật sự cần thiết do yêu cầu thực tiễn.
1.3. Từ 15/5/2026, học sinh trường giáo dưỡng được gọi điện, video call tới 4 lần/tháng
Nghị định 108/2026/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 140/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc, ban hành ngày 31/3/2026.
Theo khoản 2 Điều 24 Nghị định 140/2021/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Điều 6 Nghị định 108/2026/NĐ-CP, học sinh được gửi thư và nhận thư qua đường bưu chính; thư được kiểm duyệt trước khi nhận, gửi; học sinh không được gửi, nhận thư nếu nội dung không phù hợp, không đúng với thuần phong mỹ tục, không mang tính chất giáo dục.
Học sinh được liên lạc với người thân thích bằng điện thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích mỗi tháng 04 lần, mỗi lần không quá 15 phút.
Trường hợp học sinh có nhu cầu trao đổi với người thân thích để giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của học sinh hoặc vì công tác giáo dục thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng cho tăng thêm số lần, thời gian liên lạc với người thân thích nhưng không quá 02 lần trong 01 tháng và thời gian liên lạc mỗi lần không quá 30 phút.
1.4. Phân cấp quản lý tổ chức cán bộ trong hệ thống Thi hành án dân sự
Ngày 06/4/2026, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 03/2026/TT-BTP về việc phân cấp quản lý tổ chức cán bộ của hệ thống Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp. Thông tư này có hiệu lực từ ngày ký ban hành.
Thông tư này áp dụng cho Cục Quản lý Thi hành án dân sự, các tổ chức thuộc Cục Quản lý Thi hành án dân sự tại Trung ương, Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố và các tổ chức thuộc Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, cùng với công chức và người lao động tại các đơn vị này.
- Nguyên tắc phân cấp
Thông tư quy định các nguyên tắc phân cấp quản lý tổ chức cán bộ, bao gồm việc đảm bảo phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và các quy định của Đảng. Phân cấp thẩm quyền quản lý phải phù hợp với năng lực quản lý của các cấp, đảm bảo hiệu quả và thống nhất trong chỉ đạo, điều hành. Đồng thời, việc phân cấp đi đôi với kiểm soát quyền lực và tăng cường trách nhiệm của các lãnh đạo trong hệ thống Thi hành án dân sự.
- Thẩm quyền giao biên chế và tuyển dụng công chức
Cục trưởng Cục Quản lý Thi hành án dân sự có thẩm quyền quyết định giao biên chế công chức cho các tổ chức thuộc Cục và Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố. Cục trưởng cũng có thẩm quyền tuyển dụng công chức vào các vị trí từ ngạch Chuyên viên chính trở xuống, trừ một số trường hợp đặc biệt. Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có thẩm quyền tiếp nhận công chức vào các vị trí từ ngạch Chuyên viên trở xuống.
- Thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động
Cục trưởng Cục Quản lý Thi hành án dân sự quyết định ký kết hợp đồng lao động cho các tổ chức thuộc Cục và cho chủ trương ký kết hợp đồng lao động tại các đơn vị Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố. Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố thực hiện ký kết hợp đồng lao động theo chủ trương đã được phê duyệt.
- Thẩm quyền quản lý, sử dụng công chức
Cục trưởng Cục Quản lý Thi hành án dân sự có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chức danh lãnh đạo, quản lý và thực hiện các quyết định liên quan đến bổ nhiệm, điều động, luân chuyển công chức. Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có thẩm quyền tương tự đối với các chức danh lãnh đạo phòng và công chức thuộc đơn vị mình.
- Thẩm quyền xử lý kỷ luật và thực hiện chế độ tiền lương
Cục trưởng Cục Quản lý Thi hành án dân sự và Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có thẩm quyền quyết định kỷ luật công chức, thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng và các chế độ bảo hiểm xã hội cho công chức thuộc quyền quản lý của mình.
2. Luật Đất đai
2.1. Tăng trần thu nhập mua nhà ở xã hội từ 07/4/2026
Theo Nghị định 136/2026/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 100/2024/NĐ-CP về quản lý nhà ở xã hội có hiệu lực từ 07/4/2026, Bộ Xây dựng đã điều chỉnh điều kiện thu nhập của người mua.
Cụ thể, Điều 1 Nghị định 136/2026/NĐ-CP đã nới điều kiện về thu nhập để nhiều người dân có thể mua nhà ở xã hội hơn.
Theo đó, với người chưa kết hôn hoặc được xác nhận độc thân, mức thu nhập bình quân tối đa dự kiến nâng lên khoảng 25 triệu đồng/tháng. Mức này cao hơn so với quy định trước đó (20 triệu đồng/tháng áp dụng từ tháng 10/2025), giúp mở rộng thêm đối tượng được hưởng chính sách.
Đối với người đã kết hôn, tổng thu nhập của hai vợ chồng được nâng lên tối đa 50 triệu đồng/tháng, tăng thêm 10 triệu đồng so với trước đó. Trường hợp người độc thân đang nuôi con chưa thành niên, mức thu nhập tối đa để được mua nhà ở xã hội cũng được nâng lên 35 triệu đồng/tháng.
Thu nhập sẽ được tính theo mức bình quân trong 12 tháng gần nhất và cần có xác nhận của nơi làm việc. Ngoài ra, UBND cấp tỉnh có thể điều chỉnh mức thu nhập cho phù hợp với thực tế địa phương, nhưng không được vượt quá mức trần quy định.
3. Luật Đầu tư
3.1. Dự án đầu tư ra nước ngoài có vốn từ 7 tỷ phải xin Giấy chứng nhận của Bộ Tài chính
Nghị định 103/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định rõ thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, trong đó xác định ngưỡng vốn cụ thể để phân loại dự án và cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 17 Nghị định 103/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 03/4/2026), Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh, chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 07 tỷ đồng trở lên hoặc các dự án thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư 2025.
3.2. Sửa đổi quy định về quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài
Ngày 03/04/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 119/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 242/2025/NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi nước ngoài. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Nghị định này điều chỉnh các quy định liên quan đến việc quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài, áp dụng cho các cơ quan trung ương, địa phương, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức có liên quan.
- Cơ quan chủ quản và dự án sử dụng vốn ODA
Nghị định sửa đổi định nghĩa về cơ quan chủ quản và dự án sử dụng vốn ODA, bao gồm các cơ quan trung ương, địa phương và doanh nghiệp nhà nước. Đối với dự án hỗ trợ kỹ thuật, cơ quan chủ quản là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty con.
- Ưu tiên sử dụng vốn vay ODA
Vốn vay ODA được ưu tiên cho các lĩnh vực như y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, khoa học công nghệ và hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
- Cơ chế tài chính cho các chương trình, dự án
Nghị định quy định cơ chế tài chính cho các chương trình, dự án, bao gồm việc vay lại hoặc cấp phát vốn vay ODA tùy thuộc vào tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương. Đối với doanh nghiệp nhà nước và công ty con, việc cho vay lại toàn bộ vốn vay ODA được áp dụng.
4. Luật Môi trường
4.1. Từ 25/5/2026, doanh nghiệp bắt buộc tái chế sản phẩm, bao bì theo cơ chế EPR
Nghị định 110/2026/NĐ-CP (ban hành ngày 01/4/2026, hiệu lực từ 25/5/2026) quy định chi tiết trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu theo cơ chế EPR.
Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (tên viết tắt tiếng Anh là EPR).
Nghị định Nghị định 110/2026/NĐ-CP áp dụng đối với:
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì thuộc đối tượng thực hiện trách nhiệm tái chế và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải (gọi chung là nhà sản xuất, nhập khẩu).
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì thuộc danh mục phải thực hiện tái chế theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc khi đưa ra thị trường Việt Nam.
5. Luật Doanh nghiệp
5.1. Từ 01/7/2026, không còn yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 10 tỷ khi đăng ký bán hàng đa cấp
Nghị định 137/2026/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp đã bãi bỏ điều kiện về vốn điều lệ tối thiểu 10 tỷ đồng đối với tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.
Hiện hành, theo điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định 40/2018/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 18/2023/NĐ-CP, doanh nghiệp bắt buộc phải có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên. Tuy nhiên, tại Điều 8 Nghị định 137/2026/NĐ-CP, quy định này không còn được áp dụng.
Thay vào đó, điều kiện đăng ký được chuyển sang kiểm soát chặt chẽ hơn về tư cách pháp lý, nghĩa vụ ký quỹ, hệ thống công nghệ thông tin, tài liệu hoạt động và yêu cầu đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Cụ thể, từ ngày 01/7/2026, tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp tại Việt Nam và chưa từng bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp;
- Người quản lý, chủ sở hữu, thành viên, cổ đông và người đại diện theo pháp luật không từng giữ các vị trí tương tự tại doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã bị thu hồi giấy chứng nhận;
- Thực hiện ký quỹ tại ngân hàng theo quy định;
- Có đầy đủ tài liệu hoạt động gồm hợp đồng tham gia, quy tắc hoạt động, kế hoạch trả thưởng, chương trình đào tạo cơ bản minh bạch, đúng quy định pháp luật;
- Có hệ thống công nghệ thông tin để quản lý mạng lưới và trang thông tin điện tử công khai thông tin doanh nghiệp;
- Trường hợp có vốn đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm hoạt động đa cấp liên tục tại một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ.
6. Luật sở hữu trí tuệ
6.1. Quy định về quyền với đối tượng sở hữu công nghiệp do AI tạo ra
Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 100/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 65/2023/NĐ-CР quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ được sửa đổi bởi Nghị định 15/2026/NĐ-CР và Nghị định 33/2026/NĐ-CР .
Theo đó, Nghị định 100/2026/NĐ-CP đã bổ sung Điều 10a vào sau Điều 10 Nghị định 65/2023/NĐ-CР quy định về quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo:
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí do con người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra chỉ được xác lập theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ nếu con người có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra các đối tượng đó.
Người có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra các đối tượng đó thì được coi là tác giả theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Sở hữu trí tuệ.
- Con người được coi là có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong trường hợp con người thực hiện toàn bộ các hoạt động sau:
+ Xác định vấn đề cần giải quyết, trong đó phải bao hàm cả ý tưởng về giải pháp, không chỉ là mô tả vấn đề chung chung;
+ Lựa chọn dữ liệu đầu vào, mục tiêu, ràng buộc, tham số từ ý tưởng sáng tạo của con người, không chỉ dựa trên dữ liệu sẵn có hoặc gợi ý tự động từ hệ thống trí tuệ nhân tạo;
+ Đánh giá, lựa chọn, tinh chỉnh, thử nghiệm (nếu có) và diễn giải kết quả do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra, trong đó việc tinh chỉnh phải làm thay đổi cấu trúc hoặc chức năng cốt lõi của kết quả hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra giá trị mới.
+ Quyết định kết quả cuối cùng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí yêu cầu được bảo hộ.
- Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo không đáp ứng quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, người tạo ra có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí đó với điều kiện không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác.
7. Luật Ngân hàng
7.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi quy định cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng
Ngày 31/3/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư 02/2026/TT-NHNN, sửa đổi và bổ sung một số điều của Thông tư 35/2025/TT-NHNN về việc cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/05/2026.
Thông tư này áp dụng cho các tổ chức tín dụng, tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các tổ chức tín dụng khác.
- Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư quy định về việc cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các tổ chức tín dụng khác đối với tổ chức tín dụng. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể cho vay đặc biệt đối với tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
- Quy định về bên cho vay và bên vay đặc biệt
Bên cho vay đặc biệt có thể là Ngân hàng Nhà nước, tổ chức bảo hiểm tiền gửi hoặc tổ chức tín dụng khác. Bên vay đặc biệt là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức bảo hiểm tiền gửi vay từ Ngân hàng Nhà nước hoặc các tổ chức khác.
- Lãi suất và điều kiện cho vay đặc biệt
Thông tư quy định lãi suất cho vay đặc biệt là 0%/năm và không yêu cầu tài sản bảo đảm đối với tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong một số trường hợp nhất định. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể cho vay đặc biệt từ quỹ dự phòng nghiệp vụ theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi.
- Trình tự và thủ tục cho vay đặc biệt
Khi có nhu cầu vay đặc biệt, tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải gửi hồ sơ đề nghị đến Ngân hàng Nhà nước. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét và quyết định việc cho vay trong vòng 20 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ.
- Trách nhiệm của các bên liên quan
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải sử dụng tiền vay đúng mục đích và trả nợ theo quy định. Ngân hàng Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp xử lý nếu tổ chức bảo hiểm tiền gửi không tuân thủ quy định về trả nợ.
- Phụ lục và hướng dẫn
Thông tư kèm theo các phụ lục hướng dẫn chi tiết về hợp đồng cho vay đặc biệt và báo cáo số liệu cho vay đặc biệt đối với tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Các đơn vị liên quan phải thực hiện báo cáo và tuân thủ các quy định về cho vay đặc biệt theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
RSS