- 1. Sĩ quan nghỉ hưu trước hạn tuổi được trợ cấp 5 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ sớm
- 2. Bắt đầu chuyển mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân
- 3. Trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ Căn cước khi thực hiện liên thông đăng ký khai sinh
- 4. Khai thác lại tác phẩm báo chí phải trả ít nhất 20% tiền bản quyền sáng tạo
- 5. Áp dụng quy định mới về nhà giáo hợp đồng và thỉnh giảng
- 6. Miễn phí tra cứu và phản ánh vướng mắc trên Cổng Pháp luật quốc gia
- 7. Công dân không được tiếp cận 6 nhóm thông tin
- 8. Trường mầm non phải công khai danh mục đồ chơi, học liệu với phụ huynh
- 9. Người dân được khai thác dữ liệu định danh địa điểm trên VNeID
- 10. Chào bán, phát hành tài sản mã hóa trái quy định bị phạt đến 200 triệu đồng
1. Sĩ quan nghỉ hưu trước hạn tuổi được trợ cấp 5 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ sớm
Theo Điều 1 Nghị định 338/2026/NĐ-CP, sĩ quan đủ điều kiện nghỉ hưu trước hạn tuổi được trợ cấp một lần bằng 5 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu sớm.
Chính sách áp dụng với sĩ quan dôi dư do thay đổi tổ chức, biên chế; hết hạn tuổi giữ chức vụ chỉ huy, quản lý nhưng Quân đội không còn nhu cầu bố trí; thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc được bổ nhiệm chức vụ thấp hơn do sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ; không còn đủ tiêu chuẩn sức khỏe phục vụ Quân đội.
So với điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị định 21/2009/NĐ-CP, mức trợ cấp đã tăng từ 3 tháng lên 5 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ sớm. Chẳng hạn, sĩ quan nghỉ hưu trước hạn tuổi 3 năm có thể được hưởng khoản trợ cấp tương ứng 15 tháng tiền lương, thay vì 9 tháng như trước.
Mức mới được áp dụng với trường hợp có quyết định nghỉ hưu trước hạn tuổi kể từ ngày 01/9/2026. Hồ sơ đã tiếp nhận trước ngày này nhưng chưa có quyết định cũng thực hiện theo quy định mới.

2. Bắt đầu chuyển mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân
Theo Giai đoạn 2 Mục IV Kế hoạch 3115/KH-BHXH, từ ngày 01/9/2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam bắt đầu chuyển đổi dữ liệu và vận hành hệ thống sử dụng số định danh cá nhân hoặc số Căn cước công dân thay cho mã số bảo hiểm xã hội.
Việc chuyển đổi được thực hiện trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ (TST) theo từng cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh và bảo hiểm xã hội cơ sở. Đây là hệ thống nguồn để chuyển mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân, đồng thời chuyển mã đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế sang bộ mã quản lý mới.
Các phần mềm nghiệp vụ khác không tự chuyển đổi độc lập mà đồng bộ dữ liệu từ phần mềm TST, gồm phần mềm Xét duyệt chính sách, Giao dịch bảo hiểm xã hội điện tử, Kế toán tập trung, Hệ thống thông tin Giám định bảo hiểm y tế và các hệ thống liên quan.
Việc chuyển đổi được triển khai trên toàn bộ hệ thống thông tin nghiệp vụ, bao gồm cả ứng dụng VssID và Cổng thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Trước đó, cơ quan bảo hiểm xã hội đã thực hiện chuẩn hóa, đối soát dữ liệu người tham gia với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, nâng cấp và kiểm thử hệ thống.
3. Trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ Căn cước khi thực hiện liên thông đăng ký khai sinh
Từ ngày 01/9/2026, Nghị định 301/2026/NĐ-CP bổ sung thủ tục cấp thẻ Căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi vào quy trình liên thông điện tử.
Theo quy định mới, người đại diện hợp pháp có thể đồng thời thực hiện 4 thủ tục: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế và cấp thẻ Căn cước cho trẻ. Trước đây, Nghị định 63/2024/NĐ-CP mới quy định liên thông 3 thủ tục, chưa bao gồm cấp thẻ Căn cước.
Khi nộp hồ sơ trực tuyến, người đại diện chỉ cần lựa chọn nhu cầu cấp thẻ Căn cước trên tờ khai. Sau khi hoàn thành đăng ký thường trú, Cổng Dịch vụ công quốc gia tự động chuyển hồ sơ sang hệ thống của Bộ Công an để giải quyết.
Cơ quan công an được khai thác dữ liệu điện tử về giấy khai sinh và thẻ bảo hiểm y tế để tích hợp vào thẻ Căn cước, tài khoản định danh điện tử của trẻ. Trẻ dưới 6 tuổi không phải thu nhận thông tin nhân dạng và sinh trắc học. Thời hạn cấp thẻ không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ điện tử.
4. Khai thác lại tác phẩm báo chí phải trả ít nhất 20% tiền bản quyền sáng tạo
Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 287/2026/NĐ-CP, từ ngày 01/9/2026, mức tiền bản quyền khi khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí in và báo chí điện tử không được thấp hơn 20% tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm.
Mức tiền cụ thể do cơ quan đại diện chủ sở hữu, đại diện quản lý hoặc tổ chức được phân cấp, ủy quyền thỏa thuận với bên khai thác, sử dụng. Việc xác định tiền bản quyền căn cứ vào tần suất, thời lượng, vị trí sử dụng, mục đích, phạm vi, hình thức, phương tiện khai thác, doanh thu và các tiêu chí có liên quan.
So với Nghị định 18/2014/NĐ-CP, quy định mới đã xác định rõ mức tiền bản quyền tối thiểu. Trước đây, trường hợp cơ quan báo chí đăng lại bài, có trích dẫn nguồn và có thỏa thuận chia sẻ thông tin thì mức nhuận bút do các cơ quan tự thỏa thuận.
Riêng tác phẩm báo chí mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu được sử dụng để tuyên truyền, không nhằm mục đích thương mại cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì không phải xin phép và trả tiền bản quyền, nhưng phải ghi tên tác giả và nguồn tác phẩm.
5. Áp dụng quy định mới về nhà giáo hợp đồng và thỉnh giảng
Từ ngày 01/9/2026, Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT chính thức có hiệu lực, thay thế các quy định về chế độ thỉnh giảng đã được áp dụng trong nhiều năm.
Theo Điều 16 Thông tư này, Bộ Giáo dục và Đào tạo bãi bỏ Thông tư 44/2011/TT-BGDĐT quy định về chế độ thỉnh giảng trong các cơ sở giáo dục và Thông tư 11/2013/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung Thông tư 44/2011/TT-BGDĐT.
Quy định mới xây dựng khung pháp lý chung đối với cả nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư làm rõ điều kiện, quyền và trách nhiệm của nhà giáo; quyền, trách nhiệm của cơ sở giáo dục; hình thức hợp đồng; nguyên tắc tổ chức hoạt động thỉnh giảng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nơi nhà giáo đang công tác.
Đối với hợp đồng thỉnh giảng đã ký trước ngày 01/9/2026, các bên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi hết thời hạn hợp đồng. Tuy nhiên, thời gian tiếp tục thực hiện không được kéo dài quá 12 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực.
6. Miễn phí tra cứu và phản ánh vướng mắc trên Cổng Pháp luật quốc gia

Theo khoản 1 Điều 12 Quy chế ban hành kèm Quyết định 35/2026/QĐ-TTg, từ ngày 01/9/2026, tổ chức, cá nhân được tra cứu, sử dụng và khai thác miễn phí thông tin trên Cổng Pháp luật quốc gia.
Cổng hoạt động tại hai tên miền là phapluat.gov.vn và vietnamlaw.gov.vn. Đây là nền tảng số dùng chung quốc gia về pháp luật, phục vụ việc khai thác thông tin, tìm hiểu chính sách và tương tác với cơ quan nhà nước trên môi trường số.
Người dân, doanh nghiệp có thể tra cứu văn bản quy phạm pháp luật; dự thảo văn bản; thủ tục hành chính; thông tin trợ giúp pháp lý; tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật; thông tin hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; bản dịch văn bản ra tiếng nước ngoài và kết quả tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị.
Quy định miễn phí không áp dụng đối với những dịch vụ thuộc hợp phần, thành phần mà pháp luật quy định phải thu phí. Người dùng phải khai thác thông tin đúng mục đích, chịu trách nhiệm đối với hoạt động thực hiện bằng tài khoản của mình và tuân thủ pháp luật khi đăng tải lại thông tin trên các phương tiện khác.
7. Công dân không được tiếp cận 6 nhóm thông tin
Điều 15 Luật Tiếp cận thông tin 2026, có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, quy định 6 nhóm thông tin công dân không được tiếp cận.
Các nhóm này gồm: thông tin thuộc bí mật nhà nước; thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; bí mật kinh doanh; thông tin mà việc cung cấp có thể gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ và tài liệu được soạn thảo phục vụ công việc nội bộ.
So với Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật mới quy định cụ thể hơn đối với thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, gia đình và bí mật kinh doanh.
Một số thông tin vẫn có thể được tiếp cận khi đáp ứng điều kiện luật định, chẳng hạn được cá nhân, thành viên gia đình hoặc chủ sở hữu bí mật kinh doanh đồng ý. Trong trường hợp cần thiết vì lợi ích công cộng hoặc sức khỏe cộng đồng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thể quyết định cung cấp theo quy định của pháp luật liên quan.
8. Trường mầm non phải công khai danh mục đồ chơi, học liệu với phụ huynh
Theo khoản 2 Điều 13 Thông tư 60/2026/TT-BGDĐT, từ ngày 01/9/2026, cơ sở giáo dục mầm non phải công khai, cung cấp đầy đủ và chính xác danh mục đồ chơi, học liệu được lựa chọn sử dụng cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân sự hỗ trợ giáo dục và cha mẹ trẻ em.
Trước khi công khai, nhà trường phải rà soát đồ chơi, học liệu hiện có và thành lập Hội đồng lựa chọn. Hội đồng gồm cán bộ quản lý, tổ trưởng hoặc nhóm trưởng chuyên môn, đại diện giáo viên các nhóm, lớp và Ban đại diện cha mẹ trẻ em; làm việc theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, khách quan và minh bạch.
Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục mầm non phải thường xuyên rà soát, kịp thời dừng sử dụng hoặc lựa chọn sản phẩm thay thế đối với đồ chơi, học liệu không còn bảo đảm yêu cầu theo khoản 3 Điều 13 Thông tư này.
9. Người dân được khai thác dữ liệu định danh địa điểm trên VNeID
Theo Điều 7 Nghị định 326/2026/NĐ-CP, từ ngày 01/9/2026, tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm và thông tin của chính mình trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thông qua ứng dụng VNeID.
Dữ liệu công khai gồm mã và tên địa điểm, địa chỉ, đối tượng định danh, lối tiếp cận, mã bưu chính, tọa độ, trạng thái hoạt động, dấu hiệu nhận biết và thông tin về các địa chỉ thành phần thuộc địa điểm.
Việc khai thác dữ liệu phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền. Đối với thông tin ngoài phạm vi được phép, tổ chức, cá nhân phải có sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người quản lý địa điểm, đồng thời tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật nhà nước.
10. Chào bán, phát hành tài sản mã hóa trái quy định bị phạt đến 200 triệu đồng
Một trong những chính sách mới đáng chú ý có hiệu lực từ ngày 01/9/2026 là quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động chào bán, phát hành tài sản mã hóa tại Nghị định 284/2026/NĐ-CP.
Theo Điều 6 Nghị định này, tổ chức có thể bị phạt từ 150 - 200 triệu đồng nếu chào bán, phát hành tài sản mã hóa không đúng đối tượng; thực hiện khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 5 Nghị quyết 05/2025/NQ-CP; hoặc không công bố Bản cáo bạch và các tài liệu liên quan trên trang thông tin điện tử theo quy định.
Ngoài phạt tiền, tổ chức vi phạm còn có thể bị đình chỉ hoạt động chào bán, phát hành từ 06 - 12 tháng; buộc hủy bỏ đợt chào bán, phát hành và hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu của nhà đầu tư.
Đối với hành vi cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ, không kịp thời hoặc gây hiểu nhầm, mức phạt là từ 100 - 150 triệu đồng và có thể bị đình chỉ hoạt động từ 03 - 06 tháng.
RSS