
1. Áp dụng Quy trình Kiểm tra sau thông quan Quyết định số 2123/QĐ-CHQ
Quyết định số 2123/QĐ-CHQ ban hành Quy trình kiểm tra sau thông quan đã chuẩn hóa toàn diện trình tự, thời hạn và trách nhiệm trong hoạt động kiểm tra sau thông quan, khắc phục tình trạng áp dụng chưa thống nhất trước đây.
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Quy trình, thời hạn kiểm tra sau thông quan phải được xác định cụ thể trong Quyết định kiểm tra, được tính theo ngày làm việc liên tục và kết thúc tại ngày ký biên bản kiểm tra cuối cùng tại trụ sở cơ quan hải quan hoặc trụ sở người khai hải quan, trừ thời gian tạm dừng theo quy định pháp luật.
Quy trình đồng thời phân định rõ hai hình thức kiểm tra là kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan (quy định tại Chương II) và kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan (quy định tại Chương III), với trình tự từ đề xuất, phê duyệt, ban hành quyết định kiểm tra, lập biên bản, báo cáo kết quả đến ban hành thông báo hoặc kết luận kiểm tra được quy định cụ thể cho từng hình thức.
2. Điều chỉnh quy định về nộp, sử dụng chứng từ trong hồ sơ hải quan
Thông tư 121/2025/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã điều chỉnh quy định về nộp, sử dụng chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, thay thế nội dung trước đây tại Điều 3 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 39/2018/TT-BTC).
Theo đó, Thông tư bổ sung các trường hợp không phải nộp tờ khai hải quan khi người khai đề nghị cơ quan hải quan thực hiện các thủ tục về miễn, giảm, hoàn, không thu thuế; xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa; gia hạn, nộp dần tiền thuế nợ; xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế; khoanh tiền thuế nợ và xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt (trừ trường hợp khai hải quan bằng tờ khai giấy).
Đồng thời, Thông tư cũng bổ sung trường hợp không phải nộp chứng từ nếu chứng từ đã được cấp hoặc gửi dưới dạng điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, Cổng thông tin một cửa ASEAN hoặc các cổng trao đổi thông tin theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
3. Quy định mới về cách xác định chi phí sửa chữa kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa
Theo Điều 4 Thông tư số 45/2025/TT-BXD, chi phí sửa chữa kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa được xác định là một bộ phận của chi phí bảo trì kết cấu hạ tầng, sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Chi phí này bao gồm chi phí sửa chữa định kỳ và chi phí sửa chữa đột xuất nhằm khắc phục hư hỏng do thiên tai hoặc các sự cố bất thường khác.
Việc xác định chi phí sửa chữa được thực hiện theo hướng dẫn xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng của Bộ Xây dựng, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, lập và quản lý dự toán theo pháp luật về xây dựng.
Chi phí sửa chữa được lập, tổng hợp và phê duyệt trong kế hoạch bảo trì kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa hằng năm, tách bạch với chi phí bảo dưỡng thường xuyên và các chi phí công tác khác.
Thông tư 45/2025/TT-BXD đã chuyển cách xác định chi phí sửa chữa từ cơ chế giá dịch vụ sự nghiệp công theo phương thức đặt hàng sang chi phí bảo trì kết cấu hạ tầng; tách bạch chi phí sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất, đồng thời xác định chi phí sửa chữa theo pháp luật xây dựng và hướng dẫn của Bộ Xây dựng.

4. Trung tâm dữ liệu phải công bố phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trước khi vận hành
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 42/2025/TT-BKHCN quy định việc áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với trung tâm dữ liệu, có hiệu lực từ ngày 01/02/2026.
Một quy định đáng chú ý và được quan tâm nhất tại Thông tư này là yêu cầu bắt buộc các cơ quan, doanh nghiệp phải công bố sự phù hợp của trung tâm dữ liệu với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trước khi đưa vào sử dụng để cung cấp dịch vụ.
Cụ thể, theo khoản 3 Điều 5 Thông tư 42/2025/TT-BKHCN, cơ quan và doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện công bố sự phù hợp của trung tâm dữ liệu với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định; trường hợp trung tâm dữ liệu có thay đổi làm sai khác nội dung đã công bố thì trong thời hạn 15 ngày phải gửi báo cáo đến Sở Khoa học và Công nghệ.
Thông tư cũng yêu cầu việc công bố sự phù hợp phải được thực hiện trước khi trung tâm dữ liệu được đưa vào vận hành, khai thác, đồng thời cơ quan, doanh nghiệp phải duy trì sự phù hợp này trong suốt quá trình hoạt động.
5. Khung giá mới dịch vụ bốc dỡ container tại cảng biển Việt Nam
Điều 7 Quyết định 810/QĐ-BGTVT về giá dịch vụ bốc dỡ container nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh, trung chuyển áp dụng đối với bến cảng Lạch Huyện và khu vực Cái Mép - Thị Vải đã được sửa đổi tại Quyết định 2506/QĐ-BXD.
Quy định mới về khung giá dịch vụ bốc dỡ container tại bến cảng Lạch Huyện và khu vực Cái Mép - Thị Vải đã điều chỉnh tăng đồng loạt cả giá tối thiểu và giá tối đa so với Quyết định 810/QĐ-BGTVT.
Cụ thể, đối với dịch vụ bốc dỡ container nhập khẩu, xuất khẩu; tạm nhập, tái xuất, mức giá tăng từ 4-11 USD/container tùy loại, trong đó container có hàng, đặc biệt là container 40 feet và trên 40 feet, có mức tăng cao nhất.
Đối với container quá cảnh, trung chuyển, khung giá tiếp tục được điều chỉnh tăng, phổ biến từ 2-7 USD/container, áp dụng cho cả container có hàng và container rỗng.
Riêng dịch vụ bốc dỡ container giữa tàu (sà lan) và bãi cảng để vận chuyển qua lại giữa các cảng, mức điều chỉnh nhẹ hơn, chỉ tăng khoảng 01-02 USD/container cho tất cả các loại container.
RSS