Quy định nêu tại Thông tư 05/2026/TT-BNNMT sửa đổi Thông tư 38/2025 về chi phí khoáng sản, ban hành ngày 16/01/2026.

Tại phần lưu ý của Mẫu số 07 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 05/2026/TT-BNNMT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định:
3. Sản lượng khoáng sản khai thác thực tế trong kỳ quyết toán:
…
c) Số liệu, thông tin về sản lượng khai thác thực tế được tổng hợp từ sổ sách, chứng từ, tài liệu quy định tại khoản 3 Điều 59 của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP. Số liệu được tổng hợp từ nguồn nào cần được ghi chú rõ trong cột số 10.
d) Trường hợp số liệu trong sổ sách, chứng từ, tài liệu quy định tại khoản 3 Điều 59 của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP có sự chênh lệch quá 10% so với số liệu trong sổ theo dõi, thống kê quy định tại điểm a khoản 1 Điều 59 của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản, thu hồi khoáng sản phải có trách nhiệm giải trình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về giải trình của mình.
Theo đó, khi lập hồ sơ quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải tổng hợp số liệu sản lượng khai thác thực tế từ các nguồn hồ sơ, tài liệu theo quy định, đồng thời phải ghi rõ nguồn số liệu sử dụng trong bảng kê khai thông tin quyết toán.
Trường hợp số liệu giữa hồ sơ, chứng từ, tài liệu quản lý và sổ theo dõi, thống kê có sự khác biệt vượt quá 10%, doanh nghiệp phải thực hiện giải trình về nguyên nhân chênh lệch.
Như vậy, từ ngày 16/01/2026, khi thực hiện quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, doanh nghiệp cần bảo đảm sự thống nhất giữa số liệu sản lượng khai thác trong sổ sách, chứng từ, tài liệu và sổ theo dõi, thống kê. Trường hợp chênh lệch sản lượng khoáng sản trên 10%, doanh nghiệp phải giải trình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung giải trình.
RSS